Tọa đàm nhằm nhận diện những vướng mắc trong xác định nhu cầu, tổ chức thực hiện, quản lý nguồn lực và ứng dụng kết quả nghiên cứu; đồng thời trao đổi các giải pháp nâng cao hiệu quả cơ chế đặt hàng, tăng cường liên kết giữa Nhà nước, viện nghiên cứu, trường đại học và doanh nghiệp. Đồng chí Nguyễn Hoa Cương, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Chính sách và Chiến lược chủ trì tọa đàm, cùng với sự tham gia của các đại diện lãnh đạo từ các bộ, ngành, địa phương, các chuyên gia, nhà khoa học, đại điện các viện nghiên cứu, trường đại học và các cán bộ của Viện.
Chương trình gồm hai phiên: Phiên 1 về “Cơ chế, chính sách và thực tiễn triển khai đặt hàng thực hiện nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo” gồm đại diện các cơ quan trung ương và địa phương; Phiên 2 về “Thúc đẩy sự tham gia của viện nghiên cứu, trường đại học và doanh nghiệp trong thực hiện nhiệm vụ KH,CN&ĐMST theo cơ chế đặt hàng” có sự tham gia của đại diện các trường đại học, viện nghiên cứu và doanh nghiệp.
Phát biểu khai mạc và định hướng nội dung Tọa đàm, đồng chí Nguyễn Hoa Cương, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Chính sách và Chiến lược, nhấn mạnh mục tiêu trao đổi, đánh giá thực tiễn triển khai cơ chế đặt hàng thực hiện nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, qua đó nhận diện những khó khăn, vướng mắc và đề xuất giải pháp hoàn thiện chính sách.

Đồng chí Nguyễn Hoa Cương, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Chính sách và Chiến lược phát biểu khai mạc Tọa đàm.
Đồng chí cho biết, trong quá trình xây dựng báo cáo, nhóm nghiên cứu đã làm việc với một số cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp ở Trung ương và địa phương. Tuy nhiên, trong bối cảnh triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW và các quy định, chính sách mới, việc tiếp tục lắng nghe ý kiến từ cơ quan quản lý, viện nghiên cứu, trường đại học và doanh nghiệp có ý nghĩa quan trọng nhằm đánh giá toàn diện hơn những bất cập trong tổ chức thực hiện, phối hợp giữa các chủ thể, chuyển giao và ứng dụng kết quả nghiên cứu.
Đồng chí đề nghị các đại biểu tập trung trao đổi thẳng thắn, ngắn gọn, đi sâu vào những vấn đề thực tiễn và giải pháp chính sách, hạn chế trình bày lại các nội dung mang tính tổng kết thành tích hoặc lý luận đã được đề cập trong tài liệu. Đặc biệt, cần làm rõ những điểm nghẽn trong cơ chế đặt hàng, trách nhiệm và sự phối hợp giữa các bên, cũng như các giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực và đưa kết quả nghiên cứu vào thực tiễn. Những ý kiến tại Tọa đàm sẽ là cơ sở quan trọng để nhóm nghiên cứu tiếp tục hoàn thiện báo cáo và đề xuất chính sách.
Tiếp nối phần khai mạc, bài tham luận đề dẫn của Viện Nghiên cứu Chính sách và Chiến lược tập trung làm rõ bản chất cơ chế đặt hàng, kinh nghiệm quốc tế, thực tiễn triển khai và hàm ý chính sách đối với Việt Nam. Tham luận chỉ ra một số hạn chế trong giai đoạn 2021–2025: nghiên cứu chưa gắn chặt với nhu cầu ứng dụng, nhiều kết quả dừng ở quy mô phòng thí nghiệm, doanh nghiệp còn e ngại đầu tư và chia sẻ rủi ro, trong khi nguồn lực nghiên cứu phân bổ dàn trải. Về bản chất, đặt hàng phải xuất phát từ nhu cầu thực tiễn, xác định rõ bài toán, sản phẩm, nguồn lực và trách nhiệm các bên thông qua hợp đồng; bên đặt hàng không nhất thiết áp đặt trước giải pháp kỹ thuật. Cơ chế này cần phân biệt với tài trợ nghiên cứu, hỗ trợ đổi mới sáng tạo và mua sắm công đổi mới sáng tạo.

Toàn cảnh Tọa đàm
Kinh nghiệm quốc tế cho thấy các nước sử dụng những công cụ khác nhau để kết nối nhu cầu với nghiên cứu và phát triển công nghệ. Hoa Kỳ vận dụng linh hoạt hợp đồng R&D theo mức độ rủi ro; EU chú trọng chia sẻ rủi ro trong mua dịch vụ R&D tiền thương mại; Hà Lan khuyến khích cạnh tranh giải pháp cho các thách thức công; Phần Lan tăng cường năng lực xác định bài toán của khu vực công. Cơ chế tài chính và hợp đồng cần phù hợp với tính chất nhiệm vụ, đồng thời chú trọng thử nghiệm và tạo thị trường đầu ra.
Việt Nam đã có những bước tiến trong hoàn thiện khung pháp lý liên quan đến cơ chế đặt hàng thực hiện nhiệm vụ KH,CN&ĐMST, mở rộng chủ thể đặt hàng và định hướng quản lý theo kết quả. Tuy nhiên, hướng dẫn triển khai chưa đồng bộ; địa phương còn gặp khó khăn trong việc chuyển nhu cầu thành bài toán rõ sản phẩm đầu ra; mức độ tham gia của doanh nghiệp vào cơ chế đặt hàng còn hạn chế; cơ chế tài chính, chấp nhận rủi ro và tiếp nhận, thương mại hóa kết quả còn nhiều vướng mắc trong quá trình các địa phương triển khai.
Từ thực tiễn nêu trên, cần thiết lựa chọn công cụ hỗ trợ theo năng lực và điều kiện từng địa phương, lĩnh vực; phân định vai trò phù hợp giữa Nhà nước, viện, trường và doanh nghiệp. Các địa phương có hệ sinh thái và doanh nghiệp dẫn dắt có thể thử nghiệm đặt hàng cạnh tranh theo nhiều giai đoạn; các địa phương có năng lực còn hạn chế cần ưu tiên hỗ trợ nghiên cứu, đổi mới sáng tạo và xây dựng năng lực, thay vì triển khai đặt hàng đồng loạt.
Trên cơ sở những vấn đề đặt ra trong tham luận đề dẫn, Phiên 1 của Tọa đàm tập trung trao đổi về cơ chế tài chính, kinh nghiệm triển khai tại địa phương và chính sách đặt hàng thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ, đặc biệt trong lĩnh vực công nghệ chiến lược.
Đồng chí Đào Ngọc Chiến, Giám đốc Quỹ Phát triển Khoa học và Công nghệ Quốc gia (NAFOSTED), tập trung phân tích những đổi mới trong cơ chế tài chính và phương thức quản lý nhiệm vụ khoa học và công nghệ. Theo đồng chí, cần phân biệt rõ cơ chế đặt hàng sử dụng ngân sách nhà nước với tài trợ nghiên cứu và hoạt động đặt hàng trực tiếp của doanh nghiệp. Cơ chế tài chính phải phục vụ mục tiêu chuyên môn, tạo điều kiện gắn kết nghiên cứu với nhu cầu thực tiễn, thay vì để các quy định về chi tiêu chi phối nội dung nghiên cứu.

Đồng chí Đào Ngọc Chiến, Giám đốc Quỹ Phát triển Khoa học và Công nghệ Quốc gia (NAFOSTED) trình bày tham luận tại Tọa đàm.
Về đổi mới cơ chế quản lý, đồng chí nhấn mạnh yêu cầu chuyển sang quản lý theo kết quả đầu ra, mở rộng khoán chi, chấp nhận rủi ro và cấp kinh phí theo các mốc đánh giá cụ thể, không phụ thuộc cứng nhắc vào niên độ ngân sách. Căn cứ kết quả từng giai đoạn, cơ quan quản lý quyết định tiếp tục, điều chỉnh hoặc chấm dứt nhiệm vụ. Đồng thời, cần áp dụng các hình thức hợp đồng phù hợp với tính chất, mức độ rủi ro của từng loại hình nghiên cứu; tiếp tục tháo gỡ vướng mắc trong thực thi quy định về chấp nhận rủi ro, giảm thủ tục hành chính và tăng quyền tự chủ, trách nhiệm của tổ chức chủ trì.
Bên cạnh đó, đồng chí đề nghị tăng cường kết nối giữa nhu cầu công nghệ của doanh nghiệp với năng lực nghiên cứu của các viện, trường; thúc đẩy cơ chế đồng tài trợ và huy động nguồn lực xã hội cho nghiên cứu. Đặc biệt, cần chú trọng tạo lập thị trường đầu ra, trong đó Nhà nước có thể đóng vai trò khách hàng đầu tiên đối với sản phẩm công nghệ trong nước. Đồng chí đề xuất nghiên cứu cơ chế dành khoảng 1% vốn đầu tư công để mua sắm sản phẩm khoa học và công nghệ trong nước, góp phần thúc đẩy thương mại hóa kết quả nghiên cứu và nâng cao năng lực tự chủ công nghệ.
Từ thực tiễn triển khai tại địa phương, đồng chí Vũ Thị Kim Chi, Phó Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ thành phố Quảng Ninh, chia sẻ kinh nghiệm xác định bài toán đặt hàng và kết nối các chủ thể tham gia thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ.

Đồng chí Vũ Thị Kim Chi, Phó Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ thành phố Quảng Ninh phát biểu tại Tọa đàm.
Theo đồng chí, Quảng Ninh đang triển khai cơ chế đặt hàng theo hướng tăng cường phân cấp, gắn trách nhiệm của các cơ quan chuyên ngành, địa phương với việc xác định và tổ chức thực hiện nhiệm vụ. Trên cơ sở quy hoạch, chiến lược và các đề án trọng điểm, địa phương chủ động công bố các bài toán lớn, đồng thời khuyến khích viện nghiên cứu, trường đại học và doanh nghiệp đề xuất nhiệm vụ từ nhu cầu thực tiễn. Năm 2025, Quảng Ninh công bố 13 bài toán lớn và năm 2026 tiếp tục công bố 22 bài toán lớn, kết hợp tham vấn chuyên gia để cụ thể hóa và lựa chọn nhiệm vụ phù hợp.
Tuy nhiên, quá trình triển khai còn gặp khó khăn trong việc chuyển nhu cầu thực tiễn thành bài toán có tiêu chí kỹ thuật và kết quả đầu ra cụ thể, nhất là đối với các nhiệm vụ liên ngành. Phần lớn doanh nghiệp trên địa bàn có quy mô nhỏ và vừa, nguồn lực nghiên cứu và phát triển hạn chế, trong khi năng lực nghiên cứu của một số viện, trường chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu. Vì vậy, cần phát huy vai trò kết nối của cơ quan quản lý, tăng cường sự tham gia của chuyên gia, nhà khoa học và doanh nghiệp ngay từ khâu xác định nhiệm vụ.
Đồng chí cũng nhấn mạnh yêu cầu đổi mới phương thức đánh giá theo hướng xây dựng bộ chỉ số KPI phù hợp với từng loại hình nhiệm vụ, chú trọng hiệu quả ứng dụng và theo dõi kết quả sau nghiệm thu từ 1–3 năm. Từ kinh nghiệm triển khai các nhiệm vụ gắn với sản phẩm đặc thù địa phương, đồng chí đề xuất đẩy mạnh đặt hàng theo chuỗi giá trị, phát huy lợi thế và liên kết vùng trong các lĩnh vực kinh tế biển, du lịch thông minh, logistics và thủy sản; đồng thời tăng cường mạng lưới chuyên gia và hoàn thiện cơ chế đánh giá hiệu quả ứng dụng kết quả nghiên cứu.
Tiếp nối các nội dung về cơ chế tài chính và thực tiễn địa phương, đồng chí Lưu Quang Minh, Phó Vụ trưởng Vụ Khoa học kỹ thuật và công nghệ, Bộ Khoa học và Công nghệ, trình bày về chính sách và quy trình đặt hàng thực hiện nhiệm vụ công nghệ chiến lược. Theo đồng chí, hệ thống chính sách về công nghệ chiến lược đang từng bước được hoàn thiện, tạo hành lang pháp lý cho các chủ thể tham gia. Các nhiệm vụ phải hướng tới giải quyết những bài toán lớn, cấp bách, có tính đột phá, lan tỏa; xác định rõ công nghệ lõi cần làm chủ, khả năng thay thế nhập khẩu, nâng cao tỷ lệ nội địa hóa và thương mại hóa sản phẩm.
Về phương thức triển khai, đồng chí giới thiệu ba hình thức chủ yếu: (1) thực hiện nhiệm vụ được Thủ tướng Chính phủ giao trực tiếp theo Quyết định số 808/QĐ-TTg; (2) đặt hàng từ nhu cầu của các bộ, ngành, địa phương; và (3) tài trợ nhiệm vụ thuộc chương trình đặc biệt về công nghệ chiến lược. Việc xác định, thẩm định nhiệm vụ phải bảo đảm tính cấp thiết, khả thi, không trùng lặp, làm rõ công nghệ lõi cần làm chủ và hiệu quả ứng dụng, thương mại hóa.

Đồng chí Lưu Quang Minh, Phó Vụ trưởng Vụ Khoa học kỹ thuật và công nghệ, Bộ Khoa học và Công nghệ trình bày tham luận.
Đồng chí nhấn mạnh cơ chế khoán kinh phí theo các mốc đánh giá, gắn nguồn lực với kết quả đầu ra từng giai đoạn, làm căn cứ quyết định tiếp tục, điều chỉnh hoặc dừng nhiệm vụ; đồng thời cho phép triển khai nhiều phương án công nghệ để lựa chọn giải pháp khả thi. Trong đó, Nhà nước giữ vai trò kiến tạo, định hướng; viện nghiên cứu, trường đại học tập trung nghiên cứu, làm chủ công nghệ; doanh nghiệp giữ vai trò trung tâm trong ứng dụng và thương mại hóa, góp phần nâng cao năng lực tự chủ công nghệ quốc gia.
Tiếp nối các nội dung về cơ chế chính sách và tổ chức thực hiện, Phiên 2 của Tọa đàm tập trung thảo luận về năng lực nghiên cứu, nhu cầu thị trường và các giải pháp thúc đẩy liên kết giữa viện nghiên cứu, trường đại học và doanh nghiệp.
PGS.TS. Hoàng Tùng, Hiệu trưởng Trường Đại học Xây dựng Hà Nội, tập trung phân tích những khó khăn trong việc gắn kết hoạt động nghiên cứu với các dự án đầu tư lớn và yêu cầu làm chủ công nghệ. Theo đồng chí, mặc dù các cơ sở giáo dục đại học đã tích cực hợp tác với doanh nghiệp, nhiều kết quả nghiên cứu vẫn mang tính riêng lẻ, chưa hình thành sản phẩm hoàn chỉnh hoặc tạo được năng lực phát triển công nghệ liên tục.
Từ kinh nghiệm quốc tế, đồng chí đề xuất gắn hoạt động nghiên cứu khoa học và phát triển năng lực công nghệ với các dự án đầu tư chiến lược, đặc biệt trong lĩnh vực đường sắt, hạ tầng và công trình lớn. Viện nghiên cứu, trường đại học cần được tham gia ngay từ quá trình tiếp nhận, giải mã công nghệ, từng bước làm chủ thiết kế, chế tạo, vận hành và cải tiến. Đồng thời, cần xác định rõ mục tiêu, mức độ tự chủ công nghệ và trách nhiệm tích hợp hệ thống, tránh chia nhỏ nhiệm vụ nghiên cứu nhưng thiếu sự liên kết để hình thành sản phẩm hoàn chỉnh.

PGS.TS. Hoàng Tùng, Hiệu trưởng Trường Đại học Xây dựng Hà Nội trình bày tham luận.
Đồng chí cũng nhấn mạnh yêu cầu đổi mới tiêu chí đánh giá kết quả nghiên cứu, không chỉ dựa vào sản phẩm đầu ra mà còn chú trọng mức độ nâng cao năng lực làm chủ công nghệ qua từng giai đoạn. Trên cơ sở đó, đồng chí kiến nghị nghiên cứu bố trí hợp phần phát triển năng lực công nghệ ngay trong các dự án đầu tư chiến lược, tạo điều kiện để viện, trường đồng hành với doanh nghiệp trong nghiên cứu, tiếp nhận và ứng dụng công nghệ, góp phần nâng cao năng lực tự chủ công nghệ quốc gia.
Bổ sung góc nhìn về kết nối giữa các chủ thể, TS. Nguyễn Trung Dũng, Tổng Giám đốc BK Holdings, tập trung phân tích vai trò của tổ chức trung gian trong thúc đẩy chuyển giao công nghệ, thương mại hóa kết quả nghiên cứu và phát triển hệ sinh thái đổi mới sáng tạo tại các trường đại học.
Theo ông, bên cạnh đào tạo và nghiên cứu khoa học, đổi mới sáng tạo cần trở thành sứ mệnh quan trọng của các trường đại học. Hoạt động kết nối doanh nghiệp cần được chuyên nghiệp hóa thông qua các mô hình tổ chức trung gian phù hợp, gồm đơn vị trực thuộc trường, tổ chức độc lập hỗ trợ một trường hoặc trung tâm đổi mới sáng tạo phục vụ nhiều viện, trường. Để hoạt động hiệu quả, các tổ chức này cần có cam kết đầu tư dài hạn, cơ chế tự chủ phù hợp, chính sách phân chia lợi ích minh bạch và đội ngũ nhân sự am hiểu cả nghiên cứu khoa học lẫn thị trường.

TS. Nguyễn Trung Dũng, Tổng Giám đốc BK Holdings trình bày tham luận.
Từ thực tiễn của Đại học Bách khoa Hà Nội, ông giới thiệu mô hình hỗ trợ xuyên suốt các cấp độ sẵn sàng công nghệ (TRL), từ nghiên cứu, chế tạo mẫu, kiểm chứng đến chuyển giao, thương mại hóa và kết nối đầu tư. Đồng thời, nhấn mạnh sự cần thiết của nguồn lực hỗ trợ giai đoạn chuyển tiếp từ kết quả nghiên cứu sang sản phẩm có khả năng thương mại hóa, khi doanh nghiệp và các quỹ đầu tư chưa sẵn sàng tham gia.
Về cơ chế đánh giá, ông đề xuất chú trọng tác động của tổ chức trung gian đối với nhà trường và xã hội, thông qua kết quả thương mại hóa, số doanh nghiệp khởi nghiệp được ươm tạo, việc làm và doanh thu hợp tác, thay vì chỉ tập trung vào lợi nhuận tài chính. Trong đó, chất lượng nhân sự và sự phối hợp thực chất giữa Nhà nước, viện, trường và doanh nghiệp là những yếu tố quan trọng quyết định hiệu quả hoạt động.
Đồng chí Phạm Thị Sen Quỳnh, Phó Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ thành phố Hải Phòng, chia sẻ kinh nghiệm của địa phương trong xác định và tổ chức thực hiện các bài toán lớn về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo theo cơ chế đặt hàng. Theo đồng chí, Hải Phòng đã chủ động tổng hợp nhu cầu từ các sở, ngành, địa phương và cộng đồng doanh nghiệp; tổ chức rà soát, lấy ý kiến chuyên gia để lựa chọn, công bố công khai các bài toán và điểm nghẽn cần giải quyết, làm cơ sở thu hút các tổ chức nghiên cứu tham gia.
Từ thực tiễn triển khai, đồng chí chỉ ra một số khó khăn như việc xác định bài toán đôi khi chưa sát nhu cầu thực tế; cơ chế đặt hàng còn thiếu linh hoạt; vướng mắc về kinh phí, thủ tục thanh quyết toán và thời gian thực hiện nhiệm vụ. Việc công bố danh mục bài toán cũng chưa bảo đảm thu hút được tổ chức có đủ năng lực thực hiện hoặc tạo ra sản phẩm đáp ứng yêu cầu ứng dụng.

Đồng chí Phạm Thị Sen Quỳnh, Phó Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ thành phố Hải Phòng
Để nâng cao hiệu quả cơ chế đặt hàng, đồng chí đề xuất tăng cường phối hợp giữa cơ quan quản lý, chuyên gia, viện nghiên cứu, trường đại học và doanh nghiệp ngay từ khâu xác định nhu cầu, thiết kế bài toán; đồng thời xây dựng rõ tiêu chí, chỉ số đánh giá (KPI) và yêu cầu đối với sản phẩm đầu ra. Qua đó, bảo đảm nhiệm vụ nghiên cứu gắn với nhu cầu thực tiễn, có khả năng ứng dụng và mang lại hiệu quả thiết thực cho địa phương.
Trong phần thảo luận, đại diện các doanh nghiệp, cơ sở giáo dục đại học, viện nghiên cứu và địa phương tiếp tục trao đổi về những khó khăn trong triển khai nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo theo cơ chế đặt hàng, đồng thời đề xuất các giải pháp hoàn thiện chính sách, tăng cường liên kết giữa nghiên cứu và ứng dụng.
Ông Nguyễn Hoàng Minh, Tổng Giám đốc FPT IS, Tập đoàn FPT, nhấn mạnh yêu cầu hình thành nhiệm vụ nghiên cứu từ những bài toán công nghệ thực tiễn của doanh nghiệp, đặc biệt trong các lĩnh vực trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn và chuyển đổi số. Theo ông, cần gắn nguồn lực nghiên cứu với các dự án trọng điểm quốc gia, đồng thời có chính sách ưu đãi và đơn giản hóa thủ tục để khuyến khích doanh nghiệp chủ động đặt hàng viện nghiên cứu, trường đại học, bảo đảm kết quả nghiên cứu được tiếp nhận và ứng dụng thực tế.

Ông Nguyễn Hoàng Minh, Tổng Giám đốc FPT IS, Tập đoàn FPT
Đồng chí Nguyễn Ngọc Quang, Trưởng phòng Quản lý Khoa học công nghệ, Ban Công nghiệp công nghệ cao, Tập đoàn Viettel, đề cập những bất cập trong quy trình xét duyệt và quản lý nhiệm vụ khoa học và công nghệ, đặc biệt đối với các lĩnh vực có tốc độ phát triển nhanh như trí tuệ nhân tạo và viễn thông thế hệ mới. Đồng chí đề nghị đổi mới phương thức quản lý phù hợp với đặc thù công nghệ cao, tăng cường ghi nhận và kết nối các nhiệm vụ, sản phẩm công nghệ do doanh nghiệp triển khai với hệ thống quản lý của các bộ, ngành; đồng thời phát huy vai trò của doanh nghiệp trong xác định nhu cầu và tổ chức nghiên cứu ứng dụng.

Đồng chí Nguyễn Ngọc Quang, Trưởng phòng Quản lý Khoa học công nghệ, Ban Công nghiệp công nghệ cao, Tập đoàn Viettel
PGS.TS. Nguyễn Đức Trung Kiên, Phó Trưởng ban Khoa học công nghệ, Đại học Phenikaa, đề xuất hoàn thiện cơ chế đặt hàng theo hướng bảo đảm động lực cho các tổ chức chủ động đề xuất ý tưởng, bài toán nghiên cứu. Theo đó, cần khuyến khích sự phối hợp giữa các cơ sở nghiên cứu có năng lực bổ trợ, tạo điều kiện để nhiều đơn vị cùng tham gia giải quyết bài toán chung, thay vì để quy trình tuyển chọn làm giảm động lực đề xuất nhiệm vụ.

PGS.TS. Nguyễn Đức Trung Kiên, Phó Trưởng ban Khoa học công nghệ, Đại học Phenikaa
Ông Lưu Hải Minh, Chủ tịch Hội đồng quản trị Công ty cổ phần Công nghệ mới Nhật Hải, phản ánh khó khăn của doanh nghiệp tư nhân trong tiếp cận nguồn kinh phí hỗ trợ nghiên cứu, nhất là đối với các nhiệm vụ có chi phí thử nghiệm, đo kiểm lớn. Ông đề nghị xây dựng dự toán phù hợp với quy mô, tính chất và chi phí thực tế của từng nhiệm vụ; tháo gỡ các rào cản về thủ tục tài chính, tạo điều kiện để doanh nghiệp tư nhân tham gia chủ trì nhiệm vụ trọng điểm. Đồng thời, cần khắc phục tình trạng chia nhỏ nhiệm vụ, đầu tư dàn trải, tập trung nguồn lực cho các nghiên cứu có khả năng tạo ra sản phẩm ứng dụng thực tiễn.

Ông Lưu Hải Minh, Chủ tịch Hội đồng quản trị Công ty cổ phần Công nghệ mới Nhật Hải
Từ góc độ địa phương, bà Nguyễn Thái Kiều Ngân, Phó Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Hưng Yên, đề nghị xác định kinh phí và thời gian thực hiện phù hợp với nội dung, đặc thù chuyên môn của từng nhiệm vụ, nhất là những nghiên cứu đòi hỏi chu kỳ theo dõi dài. Bà cũng nhấn mạnh yêu cầu phân biệt rõ bài toán khoa học và công nghệ với bài toán phát triển kinh tế nói chung, xác định cụ thể những vấn đề công nghệ cần nghiên cứu, giải quyết.

Bà Nguyễn Thái Kiều Ngân, Phó Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Hưng Yên
Ông Lê Tiến Dũng, Phó Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Phú Thọ, cho rằng khó khăn không chỉ nằm ở việc xác định, công bố bài toán đặt hàng mà còn ở khả năng tổ chức thực hiện để tạo ra sản phẩm có tính khả thi và ứng dụng được. Vì vậy, cần tăng cường sự tham gia của viện nghiên cứu, trường đại học và chuyên gia ngay từ khâu xây dựng nhiệm vụ; đồng thời có cơ chế thù lao phù hợp để thu hút chuyên gia giỏi tham gia tư vấn, giải quyết những bài toán lớn của địa phương.

Ông Lê Tiến Dũng, Phó Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Phú Thọ
Từ góc độ chính sách dài hạn, đồng chí Nguyễn Ngọc Anh, Phó Vụ trưởng Vụ Khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, Ban Chính sách, chiến lược Trung ương, nhấn mạnh yêu cầu xây dựng cơ chế hỗ trợ nghiên cứu phù hợp với đặc thù các lĩnh vực công nghệ chiến lược như lượng tử, bán dẫn và trí tuệ nhân tạo. Theo đồng chí, việc phát triển và làm chủ các công nghệ này đòi hỏi quá trình đầu tư, tích lũy năng lực trong nhiều năm. Do đó, cần nghiên cứu cơ chế tài trợ dài hạn, gắn với phương thức đánh giá phù hợp; đồng thời phát huy vai trò trung tâm của doanh nghiệp trong xác định nhu cầu, đầu tư nghiên cứu và thương mại hóa kết quả, góp phần chuyển tri thức thành sản phẩm có năng lực cạnh tranh.

Đồng chí Nguyễn Ngọc Anh, Phó Vụ trưởng Vụ Khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, Ban Chính sách, chiến lược Trung ương
Đại diện khối viện nghiên cứu, PGS.TS Nguyễn Đức Dũng, Phó Viện trưởng Viện Công nghệ thông tin, và TS. Nguyễn Linh Giang, Phó Viện trưởng Viện Nhà nước và Pháp luật, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, tham gia trao đổi tại Tọa đàm.
Các ý kiến từ khối viện nghiên cứu đặt vấn đề về hiệu quả thực chất của liên kết giữa Nhà nước, viện, trường và doanh nghiệp; nhấn mạnh yêu cầu cải thiện điều kiện nghiên cứu, chính sách đãi ngộ và cơ chế huy động đội ngũ nhà khoa học tham gia giải quyết những bài toán công nghệ lớn. Đồng thời, cần tăng cường sự tin tưởng và hợp tác lâu dài giữa doanh nghiệp với các cơ sở nghiên cứu, gắn hoạt động nghiên cứu với yêu cầu về tiến độ, chất lượng và khả năng ứng dụng.

PGS.TS Nguyễn Đức Dũng, Phó Viện trưởng Viện Công nghệ thông tin, Viện Hàn lâm Khoa học và công nghệ Việt Nam
Bên cạnh kết quả nghiên cứu và sản phẩm thương mại hóa, các ý kiến cũng đề nghị đánh giá đầy đủ đóng góp của viện nghiên cứu, trường đại học trong đào tạo, phát triển nguồn nhân lực khoa học và công nghệ chất lượng cao; xây dựng cơ chế hỗ trợ dài hạn để các nhà khoa học có điều kiện tích lũy năng lực, tập trung nghiên cứu và đáp ứng nhu cầu phát triển công nghệ của doanh nghiệp và đất nước.

TS. Nguyễn Linh Giang, Phó Viện trưởng Viện Nhà nước và Pháp luật, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam
Phát biểu bế mạc, đồng chí Nguyễn Hoa Cương, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Chính sách và Chiến lược, ghi nhận và đánh giá cao các tham luận sâu sắc, những ý kiến thảo luận thẳng thắn, đa chiều và các góp ý thực tiễn của đại biểu, nhà khoa học, cơ quan quản lý, viện nghiên cứu, trường đại học và doanh nghiệp.
Từ các ý kiến trao đổi, đồng chí nhấn mạnh ba thông điệp cốt lõi. Thứ nhất, cần thay đổi căn bản tư duy về cơ chế đặt hàng, chuyển từ cấp phát, hình thức sang đặt hàng thực chất; lấy doanh nghiệp làm trung tâm định hướng thị trường, viện nghiên cứu và trường đại học làm nền tảng năng lực nghiên cứu, Nhà nước giữ vai trò kiến tạo và hoàn thiện hành lang pháp lý. Thứ hai, phải gắn đầu tư công và các dự án trọng điểm quốc gia với nhiệm vụ khoa học và công nghệ để nâng cao năng lực tự chủ, khắc phục nghiên cứu dàn trải, rời rạc, thiếu tính ứng dụng. Thứ ba, tiếp tục hoàn thiện quy định tài chính, thủ tục thanh quyết toán và đổi mới hệ thống chỉ số đánh giá hiệu quả thực chất của sản phẩm khoa học công nghệ cũng như các tổ chức trung gian.
Đồng chí Nguyễn Hoa Cương khẳng định những ý kiến tại tọa đàm là tư liệu quý để Viện Nghiên cứu Chính sách và Chiến lược tổng hợp, hoàn thiện báo cáo và kiến nghị các cấp có thẩm quyền, góp phần tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách đặt hàng nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Đồng chí cảm ơn sự tham gia tích cực, trách nhiệm của các đại biểu, diễn giả và tuyên bố kết thúc tọa đàm.
Viện Nghiên cứu Chính sách và Chiến lược




In bài viết