Hội thảo có sự tham dự và chủ trì của các đồng chí: Nguyễn Thanh Nghị, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Chính sách, chiến lược Trung ương; đồng chí Phạm Gia Túc, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ; đồng chí Phạm Đại Dương, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy Phú Thọ; đồng chí Lê Mạnh Hùng, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ Công Thương; đồng chí Nguyễn Ngọc Tuấn, Phó Trưởng Ban Chính sách, chiến lược Trung ương.

Đồng chí Nguyễn Thanh Nghị, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Chính sách, chiến lược Trung ương phát biểu đề dẫn
Tham dự Hội thảo có hơn 500 đại biểu là đại diện các ban, bộ, ngành Trung ương; lãnh đạo một số tỉnh, thành phố; các sở, ban, ngành địa phương; viện nghiên cứu, cơ sở đào tạo; chuyên gia, nhà khoa học; doanh nghiệp, hiệp hội doanh nghiệp; tổ chức quốc tế, đối tác phát triển và các cơ quan thông tấn, báo chí.
Hội thảo nhằm đánh giá khách quan, toàn diện thực trạng phát triển công nghiệp hỗ trợ Việt Nam thời gian qua; làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn, nhận diện đúng các điểm nghẽn và đề xuất được những chủ trương, cơ chế, chính sách có tính đột phá, khả thi, góp phần đưa công nghiệp hỗ trợ thực sự trở thành một trong những nền tảng quan trọng của nền công nghiệp quốc gia hiện đại, tự chủ và có sức cạnh tranh cao.

Đồng chí Phạm Gia Túc, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ phát biểu kết luận
Phát biểu chào mừng và khai mạc Hội thảo, đồng chí Bí thư Tỉnh ủy Phú Thọ Phạm Đại Dương nhấn mạnh: Phát triển công nghiệp hỗ trợ là yêu cầu đặt ra trong suốt quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Đồng chí gợi mở 03 vấn đề mang tính chiến lược, cấp bách đặt ra đối với định hướng phát triển công nghiệp hỗ trợ hiện nay: Thứ nhất, về bối cảnh, yêu cầu trong giai đoạn mới. Thứ hai, về vai trò kiến tạo của Nhà nước trong thúc đẩy liên kết, hình thành hệ sinh thái doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ quốc gia. Thứ ba, về tổ chức không gian phát triển, phát huy lợi thế của địa phương. Đồng chí đánh giá cao ý nghĩa thiệt thực của hội thảo hôm nay, mong muốn các cơ quan Trung ương, địa phương, chuyên gia, nhà khoa học và đặc biệt là cộng đồng doanh nghiệp cùng trao đổi, chia sẻ những kinh nghiệm thực tiễn; đánh giá đầy đủ hơn những kết quả đạt được, những vấn đề đang đặt ra đối với phát triển công nghiệp hỗ trợ Việt Nam; qua đó đóng góp những luận cứ thực tiễn phục vụ nghiên cứu, hoàn thiện cơ chế, chính sách trong thời gian tới.

Đồng chí Bí thư Tỉnh ủy Phú Thọ Phạm Đại Dương phát biểu chào mừng và khai mạc
Phát biểu đề dẫn Hội thảo, Đồng chí Nguyễn Thanh Nghị, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Chính sách, chiến lược Trung ương nhấn mạnh, Đại hội XIV của Đảng đã xác định yêu cầu cấp thiết phải đổi mới mô hình tăng trưởng, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, lấy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chính; nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, giá trị gia tăng và sức cạnh tranh của nền kinh tế; đồng thời giải quyết tốt mối quan hệ giữa tự chủ sản xuất trong nước với tham gia mạng lưới sản xuất và chuỗi giá trị toàn cầu. Trong yêu cầu đó, công nghiệp hỗ trợ không phải là một bộ phận thứ yếu của nền công nghiệp, mà là một trong những nền tảng hình thành năng lực công nghiệp quốc gia.

Đồng chí Nguyễn Ngọc Tuấn, Phó Trưởng Ban Chính sách, chiến lược Trung ương điều hành phần tham luận
Một nền công nghiệp mạnh không chỉ được đo bằng quy mô sản xuất và xuất khẩu sản phẩm cuối cùng, mà quan trọng hơn là bằng khả năng làm chủ vật liệu, linh kiện, thiết bị, công nghệ, thiết kế, tiêu chuẩn, dịch vụ kỹ thuật và các khâu có giá trị gia tăng cao. Công nghiệp hỗ trợ càng phát triển, năng lực nội sinh của nền kinh tế càng được củng cố; giá trị tạo ra và giữ lại trong nước càng lớn; khả năng chống chịu trước những biến động bên ngoài càng cao.

Đoàn chủ trì hội thảo
Đồng chí Trưởng Ban nêu rõ, Thời gian qua, công nghiệp hỗ trợ Việt Nam đã có bước phát triển tích cực. Hệ thống doanh nghiệp cung ứng trong một số ngành từng bước được hình thành; một số doanh nghiệp Việt Nam đã tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng của các tập đoàn trong và ngoài nước. Tuy nhiên, công nghiệp hỗ trợ Việt Nam vẫn là khâu yếu, khâu hạn chế của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hoá đất nước. Trong đó, điểm nghẽn lớn nhất hiện nay không chỉ là thiếu doanh nghiệp tham gia chuỗi cung ứng, mà còn là thiếu năng lực doanh nghiệp ở những tầng có giá trị gia tăng cao.
Đặc biệt, sự tham gia của doanh nghiệp Việt Nam vào các khâu như nghiên cứu và phát triển, thiết kế, phát triển vật liệu, thử nghiệm, chứng nhận, sở hữu trí tuệ và tích hợp hệ thống còn hạn chế.

Các đồng chí lãnh đạo tham quan triển lãm
Vì vậy, nếu chỉ tiếp tục tiếp cận theo hướng tăng số lượng doanh nghiệp, mở rộng danh mục sản phẩm hoặc đơn thuần nâng tỷ lệ nội địa hóa thì chưa đủ. Vấn đề quan trọng hơn phải quan tâm là giá trị nào được tạo ra trong nước, công nghệ nào được làm chủ, doanh nghiệp Việt Nam đang đứng ở đâu trong chuỗi và có thể tiến lên tầng nào của chuỗi giá trị.
Đây chính là yêu cầu chuyển từ “nội địa hóa sản phẩm” sang “nội địa hóa giá trị và năng lực”.
Đồng chí Nguyễn Thanh Nghị nhấn mạnh, bối cảnh thế giới hiện nay đang tạo ra cả thách thức và cơ hội mới đối với công nghiệp hỗ trợ Việt Nam.
Vì vạy đặt ra yêu cầu có tính chiến lược: Việt Nam không thể chỉ đi theo các chuỗi giá trị đã hình thành, mà còn phải chủ động chuẩn bị năng lực để tham gia và từng bước định vị ở những chuỗi giá trị mới.

Các đồng chí lãnh đạo tham quan triển lãm
Đặc biệt, với mục tiêu tăng trưởng cao, quy mô thị trường trong nước sẽ tiếp tục mở rộng. Các dự án hạ tầng chiến lược, đường sắt, năng lượng, công nghiệp quốc phòng-an ninh, hạ tầng số, trung tâm dữ liệu, điện tử, ô tô, cơ khí chế tạo và các ngành công nghệ mới sẽ tạo ra nhu cầu rất lớn về vật liệu, thiết bị, linh kiện và dịch vụ kỹ thuật.
Nếu năng lực cung ứng trong nước được nâng lên tương ứng, đây sẽ là thị trường để hình thành doanh nghiệp, công nghệ và chuỗi cung ứng của Việt Nam. Ngược lại, nếu phần lớn nhu cầu tăng thêm tiếp tục được đáp ứng bằng nhập khẩu, tăng trưởng về quy mô sẽ chưa chuyển hóa đầy đủ thành tăng trưởng về năng lực nội sinh.

TS. Vũ Mạnh Hùng, Vụ trưởng Vụ Kinh tế ngành, Ban Chính sách, chiến lược Trung ương trình bày tham luận
Do đó, cần nhìn nhận phát triển công nghiệp hỗ trợ không chỉ từ phía cung, mà phải bắt đầu từ thị trường, đơn hàng và yêu cầu của các chuỗi giá trị.
Trưởng Ban nhấn mạnh các định hướng lớn cần tập trung như: Thứ nhất, xác định công nghiệp hỗ trợ là bộ phận cấu thành của chiến lược phát triển công nghiệp quốc gia. Thứ hai, chuyển trọng tâm từ “có sản phẩm” sang “có năng lực”. Thứ ba, lấy doanh nghiệp làm trung tâm của hệ sinh thái phát triển công nghiệp hỗ trợ. Thứ tư, phát huy mạnh hơn vai trò của khu vực kinh tế tư nhân, doanh nghiệp Việt Nam và thu hút FDI trong xây dựng năng lực công nghiệp quốc gia. Thứ năm, lựa chọn có trọng tâm các ngành và công nghệ ưu tiên, nhất là những lĩnh vực có khả năng tạo hiệu ứng lan tỏa lớn. Thứ sáu, xây dựng hạ tầng công nghiệp và hạ tầng kỹ thuật dùng chung đáp ứng chuẩn quốc tế. Thứ bảy, đổi mới phương thức hỗ trợ của Nhà nước theo hướng tập trung, có điều kiện và gắn với kết quả.

Đại diện Bộ Khoa học và Công nghệ phát biểu tham luận
Trưởng Ban nêu rõ, tự chủ công nghiệp không đồng nghĩa với tự sản xuất tất cả.
Trong một nền kinh tế mở và hội nhập sâu rộng, tự chủ chiến lược phải là khả năng lựa chọn, làm chủ và kiểm soát những năng lực có ý nghĩa chiến lược; bảo đảm nguồn cung đa dạng, an toàn đối với những đầu vào thiết yếu; đồng thời phát huy lợi thế để Việt Nam trở thành một mắt xích quan trọng trong chuỗi cung ứng khu vực và toàn cầu. Điều này phù hợp với định hướng của Đại hội XIV về kết hợp giữa tự chủ sản xuất trong nước với tham gia sâu vào mạng lưới sản xuất và chuỗi giá trị toàn cầu. Tự chủ phải đi cùng hội nhập. Tự cường phải đi cùng hợp tác. Năng lực trong nước phải gắn với chuỗi giá trị toàn cầu.
Trên tinh thần đó, đồng chí Nguyễn Thanh Nghị đề nghị hội thảo tập trung thảo luận, làm rõ ba vấn đề: Một là, Việt Nam cần làm chủ những năng lực công nghiệp nào trong giai đoạn 2026–2030 và tầm nhìn đến 2045? Hai là, những điểm nghẽn nào đang cản trở doanh nghiệp Việt Nam nâng cấp vị trí trong chuỗi giá trị và cần được tháo gỡ ở cấp thể chế, pháp luật, thị trường, vốn, công nghệ, nhân lực và hạ tầng? Ba là, cơ chế phối hợp giữa Nhà nước, doanh nghiệp dẫn dắt, doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ, viện nghiên cứu và cơ sở đào tạo cần được thiết kế như thế nào để biến nhu cầu của thị trường thành năng lực sản xuất thực tế?

Đồng chí Phạm Văn Quân, Phó Cục trưởng Cục Công nghiệp, Bộ Công Thương trình bày tham luận
Đồng chí cũng đề nghị các ý kiến tại Hội thảo không chỉ dừng ở việc nhận diện khó khăn, mà đi thẳng vào những vấn đề cụ thể: sản phẩm nào, công đoạn nào cần ưu tiên; thị trường ở đâu; doanh nghiệp nào có thể dẫn dắt; tiêu chuẩn nào cần phải đạt; công nghệ nào cần làm chủ; hạ tầng nào cần đầu tư; nhân lực nào cần chuẩn bị; cơ chế nào cần tiếp tục rà soát, sửa đổi bổ sung. Mục tiêu cuối cùng là hình thành một hệ thống doanh nghiệp Việt Nam có năng lực thực chất, có khả năng cung ứng ổn định, làm chủ ngày càng nhiều công đoạn có giá trị cao, từng bước trở thành nhà cung ứng chiến lược, nhà cung ứng cấp 1 và nhà tích hợp hệ thống.
Phần tham luận của Hội thảo tập trung vào các vấn đề: Đề xuất chủ trương phát triển công nghiệp hỗ trợ trong giai đoạn mới; Thực trạng và định hướng phát triển công nghiệp hỗ trợ Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn 2045; Khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và chuyển đổi xanh trong công nghiệp hỗ trợ; Từ chính sách đến kết quả thực thi: nhìn lại quá trình phát triển công nghiệp hỗ trợ ở Việt Nam và yêu cầu tăng cường theo dõi, đánh giá; Chính sách phát triển công nghiệp hỗ trợ Việt Nam; Thể chế, chính sách và hệ sinh thái đổi mới sáng tạo thúc đẩy doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ tham gia chuỗi giá trị toàn cầu; Phát triển công nghiệp hỗ trợ trong giai đoạn mới - từ thực tiễn Phú Thọ và một số đề xuất chính sách; Phát triển công nghiệp hỗ trợ Việt Nam: thực tiễn từ doanh nghiệp và những kiến nghị chủ trương, chính sách; Phát triển công nghiệp hỗ trợ Việt Nam.

Bà Nguyễn Thị Xuân Thúy, ĐH Kinh tế, ĐH Quốc gia trình bày tham luận
Phát biểu kết luận hội thảo đồng chí Phạm Gia Túc, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ đánh giá, các ý kiến tại hội thảo cùng các tham luận trong kỷ yếu đã phác họa bức tranh tương đối toàn diện, đi sâu cả lý luận và thực tiễn phát triển công nghiệp hỗ trợ.
Tuy nhiên, một hội thảo không thể giải quyết được tất cả. Phát triển công nghiệp hỗ trợ đòi hỏi sự chung sức, đồng lòng của cả hệ thống chính trị, Nhà nước, các hiệp hội và cộng đồng doanh nghiệp. Những vấn đề đặt ra tại hội thảo cần tiếp tục được tổng hợp để hoàn thiện thể chế và tổ chức thực hiện.

PGS.TS. Phan Đăng Tuất, Chủ tịch HH Công nghiệp hỗ trợ Việt Nam
Từ kết quả hội thảo, Phó Thủ tướng Thường trực nêu 5 vấn đề về nhận thức, đề nghị đổi mới mạnh mẽ cách tiếp cận với 5 chuyển đổi căn bản và tập trung thực hiện 8 nhóm nhiệm vụ, giải pháp.
Theo Phó Thủ tướng Thường trực, trước hết cần khẳng định công nghiệp hỗ trợ là ngành công nghiệp nền tảng, trực tiếp quyết định năng lực tự chủ, sức cạnh tranh và mức độ tham gia của nền kinh tế vào chuỗi giá trị toàn cầu.
Công nghiệp hỗ trợ là tầng sản xuất trung gian gồm vật liệu, linh kiện, phụ tùng, công nghệ chế tạo, thiết kế, đo lường, thử nghiệm…, quyết định độ sâu và sức chống chịu của cả nền công nghiệp. Một quốc gia có thể lắp ráp những sản phẩm rất hiện đại nhưng vẫn chưa có nền tảng công nghiệp tự chủ nếu công nghiệp hỗ trợ còn yếu.
.jpeg)
Đồng chí Trần Duy Đông, Chủ tịch UBND tỉnh Phú Thọ trình bày tham luận
Phó Thủ tướng Thường trực nhấn mạnh, đây còn là vấn đề liên quan đến an ninh kinh tế và năng lực tự chủ của nền kinh tế. Thời gian qua, công nghiệp hỗ trợ Việt Nam đã hình thành nền tảng nhất định. Khung thể chế từng bước được hoàn thiện. Theo thống kê chưa đầy đủ được Phó Thủ tướng Thường trực dẫn tại hội thảo, cả nước hiện có trên 7.000 doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ, khoảng 30% đã tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu, một số tập đoàn trong nước bắt đầu đóng vai trò đầu chuỗi.
Tuy nhiên, Phó Thủ tướng Thường trực yêu cầu nhìn thẳng vào thực tế công nghiệp hỗ trợ vẫn "rộng mà chưa sâu, nhiều mà chưa mạnh".
Khu vực có vốn đầu tư nước ngoài chiếm 77% kim ngạch xuất khẩu năm 2025 và 80,1% trong 8 tháng năm 2026, với tốc độ tăng 26,9%, trong khi xuất khẩu của khu vực kinh tế trong nước tăng 7,4%.
Đáng chú ý, ngay khi nêu những con số này, Phó Thủ tướng Thường trực yêu cầu các cơ quan chức năng tiếp tục đánh giá, làm rõ trong tỉ trọng xuất khẩu của khu vực FDI, doanh nghiệp Việt Nam thực sự tham gia và tạo ra bao nhiêu giá trị. Đây là cơ sở để đánh giá đúng thực chất năng lực công nghiệp hỗ trợ trong nước.

Các đồng chí lãnh đạo chụp ảnh lưu niệm
Mức độ tham gia chuỗi giá trị toàn cầu của doanh nghiệp Việt Nam còn hạn chế. Theo đánh giá của Ngân hàng Thế giới được Phó Thủ tướng Thường trực dẫn tại hội thảo, tỉ lệ này mới khoảng 18% và chủ yếu tập trung ở doanh nghiệp lớn. Cung ứng trong nước cho công nghiệp công nghệ cao chỉ đạt khoảng 5-10%. Nhiều lĩnh vực như đúc, rèn, xử lý nhiệt, xử lý bề mặt còn những khoảng trống.
Theo Phó Thủ tướng Thường trực, những con số trên đòi hỏi phải nghiên cứu lại cách làm, chứ vấn đề không chỉ nằm ở việc tiếp tục thay đổi thể chế hay ban hành thêm chính sách.
Những hạn chế trên bắt nguồn từ các điểm nghẽn mang tính hệ thống, gồm thiếu thị trường dẫn dắt và doanh nghiệp đầu chuỗi đặt hàng ổn định, ưu đãi chưa phù hợp với doanh nghiệp nhỏ và vừa, hạ tầng tiêu chuẩn, đo lường, thử nghiệm còn yếu, nhân lực "thừa thầy, thiếu thợ", phối hợp chưa chặt và chưa đo được chính xác những thay đổi mà chính sách tạo ra.
Sâu xa hơn là tư duy thu hút đầu tư theo số lượng. Theo Phó Thủ tướng Thường trực, thu hút đầu tư cần chuyển mạnh sang chất lượng, công nghệ cao, giá trị gia tăng cao, tạo việc làm và đóng góp vào năng lực tự chủ của nền kinh tế.
Từ thực tế hoạt động của các tập đoàn lớn, Phó Thủ tướng Thường trực lưu ý, muốn tham gia chuỗi cung ứng, bản thân doanh nghiệp Việt Nam phải đủ mạnh để đáp ứng yêu cầu. Khi sản phẩm, mẫu mã liên tục thay đổi, doanh nghiệp trong nước phải có khả năng thích ứng tương ứng, đáp ứng tiêu chuẩn của doanh nghiệp đầu chuỗi.
Trong khi đó, sự dịch chuyển chuỗi cung ứng toàn cầu cùng các dự án hạ tầng chiến lược như đường sắt tốc độ cao, điện hạt nhân, điện gió ngoài khơi và các chương trình công nghệ chiến lược đang mở ra cơ hội lớn. Đối với các dự án lớn, Phó Thủ tướng Thường trực đặc biệt lưu ý yêu cầu chuyển giao công nghệ, qua đó tạo điều kiện nâng cao năng lực công nghệ trong nước.
Theo Phó Thủ tướng Thường trực, công nghiệp hỗ trợ Việt Nam đang đứng trước "hai nhịp" phải thực hiện đồng thời. Một mặt là khắc phục những yếu kém, hoàn thành phần còn dở dang của quá trình công nghiệp hóa truyền thống. Mặt khác là không để các ngành mới như bán dẫn, trí tuệ nhân tạo, robot, pin, năng lượng mới, hàng không vũ trụ đi vào "vết xe cũ" - có sản phẩm cuối cùng nhưng nhập gần như toàn bộ linh kiện, vật liệu.
Từ những nhận thức trên, Phó Thủ tướng Thường trực đề nghị các cơ quan, bộ, ngành đổi mới mạnh mẽ cách tiếp cận phát triển công nghiệp hỗ trợ với 5 chuyển đổi căn bản.
Thứ nhất, chuyển từ "nội địa hóa theo tỉ lệ" sang "làm chủ năng lực", phân định rõ năng lực nào cần tự chủ, năng lực nào phải bảo đảm khả năng thay thế, không đặt mục tiêu tự sản xuất bằng mọi giá đối với tất cả đầu vào.
Thứ hai, chuyển từ hỗ trợ dàn trải theo tên ngành sang tập trung theo chuỗi, theo công đoạn, theo những bài toán lớn của đất nước và hiệu quả đầu ra.
Thứ ba, chuyển từ ưu đãi đầu vào sang hỗ trợ theo kết quả, có điều kiện, có thời hạn. Nhà nước đóng vai trò "vốn mồi", chia sẻ rủi ro, kiên quyết không để phát sinh cơ chế xin - cho.
Thứ tư, chuyển từ chú trọng "thu hút FDI" sang "sử dụng hiệu quả FDI", tăng cường liên kết giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp Việt Nam.
Thứ năm, chuyển từ quản lý theo hoạt động sang quản lý theo kết quả. Nguồn lực ngân sách bỏ ra phải tạo thêm nhà cung ứng đạt chuẩn và thêm giá trị gia tăng trong nước.
Xuyên suốt các chuyển đổi này là nguyên tắc doanh nghiệp là trung tâm, là chủ thể, trong đó khu vực tư nhân cần được đặc biệt chú trọng trong phát triển công nghiệp hỗ trợ. Nhà nước kiến tạo, tạo thị trường ban đầu. Thị trường trong nước là điểm tựa, xuất khẩu là thước đo cuối cùng của năng lực cạnh tranh.
Phó Thủ tướng Thường trực cho rằng cách tiếp cận mới phải được đo bằng những mục tiêu cụ thể.
Đến năm 2030, một số ngành công nghiệp chủ lực đặt mục tiêu tỉ lệ nội địa hóa bình quân 40-45%, trong đó điện tử 25-30%, cơ khí chế tạo 40%, ô tô 22-30%, dệt may 60%, da giày 60-65%, công nghiệp công nghệ cao 15%. Chỉ số năng lực cạnh tranh công nghiệp thuộc nhóm 3 nước dẫn đầu ASEAN.
Đến năm 2035, tỉ lệ nội địa hóa tiếp tục được nâng lên, trong đó cơ khí chế tạo đạt 50%, dệt may 70%. Doanh nghiệp Việt Nam chủ động được các khâu nghiên cứu, thiết kế, chế tạo.
"Mục tiêu thì rõ ràng. Vấn đề là tổ chức thực hiện làm sao để đạt mục tiêu đó", Phó Thủ tướng Thường trực nhấn mạnh.
Theo đó, cần phấn đấu chặn đà suy giảm giá trị gia tăng trong nước trong xuất khẩu, hình thành mạng lưới nhà cung ứng cấp 1, cấp 2 là doanh nghiệp Việt Nam cho các tập đoàn, doanh nghiệp đầu chuỗi trong nước. Mỗi vùng công nghiệp trọng điểm cần có trung tâm thử nghiệm, chứng nhận dùng chung được quốc tế thừa nhận, đồng thời sớm xây dựng bộ chỉ tiêu thống kê chính thức về công nghiệp hỗ trợ.
Tầm nhìn đến năm 2045 là công nghiệp hỗ trợ Việt Nam làm chủ công nghệ lõi của các ngành công nghiệp nền tảng, tham gia những khâu có giá trị cao của chuỗi giá trị khu vực và toàn cầu, đủ sức duy trì năng lực sản xuất trong mọi tình huống.
Để đạt các mục tiêu trên, Phó Thủ tướng Thường trực đề nghị tập trung thực hiện 8 nhóm nhiệm vụ.
Trước hết là tiếp tục hoàn thiện thể chế, thể chế hóa đầy đủ chính sách phát triển công nghiệp hỗ trợ trong Luật Công nghiệp trọng điểm và các luật có liên quan. Cùng với đó là xây dựng liên kết có trách nhiệm giữa doanh nghiệp đầu chuỗi và nhà cung ứng, gắn ưu đãi với kết quả, tạo lập thị trường và hạ tầng dùng chung. Đối với đề xuất xây dựng một đạo luật riêng về công nghiệp hỗ trợ, Phó Thủ tướng Thường trực cho rằng trước mắt cần đưa các nội dung cần thiết vào Luật Công nghiệp trọng điểm, đồng thời rà soát danh mục sản phẩm công nghiệp hỗ trợ ưu tiên, gắn với danh mục công nghệ chiến lược và phù hợp với các cam kết quốc tế của Việt Nam.
Nhiệm vụ thứ hai là kiến tạo thị trường dẫn dắt, nghiên cứu cơ chế để đầu tư công, các dự án hạ tầng chiến lược, mua sắm công và mua sắm của doanh nghiệp nhà nước trở thành "đơn đặt hàng đầu tiên" cho doanh nghiệp trong nước.
Thứ ba, phát huy vai trò của doanh nghiệp đầu chuỗi và tăng cường liên kết với khu vực FDI. Các tập đoàn trong nước cần chuyển từ mua module hoàn chỉnh sang công bố tiêu chuẩn, đặt hàng phân hệ và đồng hành với nhà cung ứng Việt Nam. Thu hút FDI có chọn lọc, ưu tiên dự án có trung tâm nghiên cứu - phát triển, chuyển giao công nghệ và chương trình phát triển nhà cung ứng trong nước.
Thứ tư, xây dựng hạ tầng kỹ thuật, nghiên cứu ứng dụng dùng chung và tăng cường phối hợp giữa Nhà nước, nhà trường, viện nghiên cứu, nhà khoa học với doanh nghiệp, từ nghiên cứu, thử nghiệm đến sản xuất.
Thứ năm, phát triển nguồn nhân lực chiến lược, ưu tiên kỹ sư thiết kế, kỹ sư hệ thống, tổng công trình sư, thợ gia công chính xác, kỹ thuật viên phòng sạch. Đào tạo cần chuyển mạnh theo nhu cầu xã hội và đơn đặt hàng của doanh nghiệp.
Thứ sáu, đổi mới công cụ tài chính, tín dụng, chuyển trọng tâm từ ưu đãi thuế sang các công cụ dựa trên chi phí thực tế, kết nối các quỹ hiện có thành bộ công cụ thống nhất, phát triển tín dụng chuỗi cung ứng, cho vay dựa trên hợp đồng, đơn hàng và hiệu quả của doanh nghiệp.
Thứ bảy, tổ chức lại không gian phát triển theo các cụm liên kết ngành, hình thành các khu công nghiệp chuyên ngành có hạ tầng xử lý môi trường tập trung.
Riêng với Phú Thọ, Phó Thủ tướng Thường trực đề nghị tỉnh phát huy lợi thế công nghiệp, vị trí liên kết vùng và mạng lưới doanh nghiệp tham gia chuỗi cung ứng để phấn đấu trở thành một trung tâm công nghiệp hỗ trợ của cả nước.
Thứ tám, xây dựng hệ thống tiêu chí theo dõi, đánh giá, cơ sở dữ liệu và bản đồ năng lực nhà cung ứng quốc gia. "Không đo được thì khó có thể quản lý được", Phó Thủ tướng Thường trực nhấn mạnh.
Phó Thủ tướng Thường trực đề nghị Ban Chính sách, chiến lược Trung ương phối hợp với Bộ Công Thương và các cơ quan liên quan tổng hợp kết quả hội thảo, tiếp tục nghiên cứu, kiến nghị hoàn thiện chính sách phát triển công nghiệp hỗ trợ.
Đối với Bộ Công Thương - cơ quan thường trực Chương trình phát triển công nghiệp hỗ trợ - Phó Thủ tướng Thường trực yêu cầu ban hành kế hoạch hành động Chương trình giai đoạn 2026-2028 trước ngày 30/10/2026, trong đó có danh mục chuỗi, phân hệ ưu tiên, địa chỉ trách nhiệm và các mốc kiểm tra sau 12 tháng, 24 tháng. Bộ Công Thương đồng thời khẩn trương hoàn thiện dự án Luật Công nghiệp trọng điểm để trình Chính phủ. Bộ Tài chính, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và các cơ quan liên quan theo chức năng, nhiệm vụ nghiên cứu hoàn thiện các công cụ tài chính, tín dụng và hạ tầng dùng chung phục vụ phát triển công nghiệp hỗ trợ.
Các bộ, ngành quản lý những dự án lớn rà soát chương trình, dự án để tạo thị trường cho công nghiệp hỗ trợ trong nước. Các tập đoàn, tổng công ty nhà nước nghiên cứu lộ trình nội địa hóa và tăng đặt hàng trong nước từ nay đến ngày 30/6/2027.
Các địa phương, trước hết là những trung tâm công nghiệp và tỉnh Phú Thọ, rà soát quy hoạch, quỹ đất, hạ tầng và các điều kiện cần thiết, coi phát triển công nghiệp hỗ trợ là một nhiệm vụ quan trọng.
Phó Thủ tướng Thường trực cũng đề nghị các hiệp hội ngành hàng, doanh nghiệp thường xuyên phản ánh những vướng mắc về cơ chế, chính sách để kịp thời xem xét, xử lý theo thẩm quyền.
Phó Thủ tướng Thường trực Phạm Gia Túc nhấn mạnh: "Không có quốc gia nào trở thành nước công nghiệp phát triển chỉ bằng lắp ráp". Chính phủ sẽ chỉ đạo quyết liệt theo tinh thần "việc đã nói thì phải làm, việc đã giao thì phải có địa chỉ, có thời hạn và có kết quả đo đếm được", thúc đẩy công nghiệp hỗ trợ có bước phát triển mới, đóng góp vào năng lực tự chủ và sức cạnh tranh của nền kinh tế.




In bài viết