
Đồng chí Nguyễn Thanh Nghị, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Chính sách, chiến lược Trung ương trình bày chuyên đề “Nội dung trọng tâm, cốt lõi của Nghị quyết số 79 - NQ/TW ngày 06/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế Nhà nước”
Tại điểm cầu Trung ương, Tổng Bí thư Tô Lâm dự và chỉ đạo Hội nghị. Cùng dự Hội nghị có các đồng chí: Ủy viên Bộ Chính trị khóa XIII, Chủ tịch nước Lương Cường; nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Chủ tịch nước Trương Tấn Sang (dự tại điểm cầu Tây Ninh); Ủy viên Bộ Chính trị khóa XIII, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính; Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn; nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng; Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư Trần Cẩm Tú. Cùng dự Hội nghị có các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng dự tại điểm cầu Trung ương và các điểm cầu trong cả nước; lãnh đạo các ban, bộ, ngành, Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể Trung ương, Ủy viên Ủy ban Kiểm tra Trung ương, Ủy viên Quân ủy Trung ương, Đảng ủy Công an Trung ương, Đảng ủy các cơ quan Đảng Trung ương, Đảng ủy Chính phủ, Đảng ủy Quốc hội, Đảng ủy Mặt trận Tổ quốc các đoàn thể Trung ương; lãnh đạo cấp cục, vụ và tương đương thuộc các cơ quan tham mưu, giúp việc của Đảng ở Trung ương, Đảng ủy các cơ quan Đảng Trung ương; Chủ tịch Hội đồng thành viên/Hội đồng quản trị, Tổng giám đốc các tập đoàn, tổng công ty nhà nước, ngân hàng nhà nước; lãnh đạo các Ban chiến lược, đầu tư, tài chính, tín dụng, phát triển doanh nghiệp; các đồng chí cấp trưởng cục, vụ, viện, nhà hát thuộc Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch; các nghệ sỹ nhân dân thuộc lĩnh vực điện ảnh, sân khấu, múa, âm nhạc, phát thanh truyền hình; lãnh đạo Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam; các tác giả được tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh và Giải thưởng nhà nước về văn học, nghệ thuật; các nhà nghiên cứu văn hóa, nghệ thuật. Tại điểm cầu các tỉnh ủy, thành ủy, các cơ quan, tổ chức đảng, có các đồng chí Bí thư, Phó Bí thư; Ủy viên Ban Thường vụ tỉnh, thành ủy, Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ, lãnh đạo các ban, sở, ngành, đoàn thể của các tỉnh, thành phố, cùng toàn thể lãnh đạo, đảng viên tại các xã, phường, đặc khu và tổ chức cơ sở đảng trên địa bàn; lãnh đạo chi nhánh, đơn vị thành viên của các tập đoàn, tổng công ty, ngân hàng nhà nước đóng trên địa bàn; lãnh đạo các đơn vị nghệ thuật, nghệ sỹ nhân dân, nghệ sỹ ưu tú, tác giả được tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh, Giải thưởng nhà nước về văn học, nghệ thuật.
Tại điểm cầu Ban Chính sách, chiến lược Trung ương, tham dự Hội nghị có đồng chí Nguyễn Đức Hiển, Phó Trưởng Ban cùng toàn thể cán bộ, công chức của Ban.
Tại Hội nghị, đồng chí Nguyễn Thanh Nghị, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Chính sách Chiến lược Trung ương đã trình bày Chuyên đề “Nội dung trọng tâm, cốt lõi của Nghị quyết số 79 - NQ/TW ngày 06/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế Nhà nước”. Xin trân trọng giới thiệu bài trình bày của đồng chí Nguyễn Thanh Nghị về những nội dung trọng tâm, cốt lõi của Nghị quyết này.
Nội dung thứ nhất: Về nội hàm KTNN theo Nghị quyết số 79-NQ/TW của Bộ Chính trị
Nghị quyết số 79-NQ/TW của Bộ Chính trị là bước đổi mới quan trọng trong tư duy lý luận và nhận thức của Đảng về KTNN. Theo đó, lần đầu tiên nội hàm KTNN được xác định một cách đầy đủ, có hệ thống trong một nghị quyết chuyên đề; làm rõ vị trí và mở rộng phạm vi của khu vực này. Theo đó, KTNN là thành phần đặc biệt quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. KTNN được nhìn nhận như một chỉnh thể thống nhất, bao gồm toàn bộ các nguồn lực do Nhà nước nắm giữ, quản lý và chi phối hoạt động nhằm thực hiện các mục tiêu phát triển KT-XH, ổn định vĩ mô, bảo đảm AN-QP như: đất đai, tài nguyên-khoáng sản, tài nguyên nước, vùng trời, vùng biển, không gian ngầm, hệ thống kết cấu hạ tầng do nhà nước đầu tư, ngân sách nhà nước, dự trữ quốc gia, các quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách, doanh nghiệp nhà nước, tổ chức tín dụng nhà nước, vốn nhà nước tại doanh nghiệp và các đơn vị sự nghiệp công lập.
Nội dung thứ hai: Thực trạng KTNN sau 80 năm xây dựng và phát triển, đặc biệt sau 40 năm Đổi mới
Nghị quyết khẳng định trong suốt 80 năm xây dựng và phát triển, đặc biệt sau 40 năm đổi mới, KTNN luôn giữ vai trò chủ đạo, vừa trực tiếp sản xuất, kinh doanh, vừa là nền tảng nguồn lực vật chất quan trọng, đồng thời là công cụ chiến lược để Nhà nước thực hiện vai trò định hướng, dẫn dắt và điều tiết các hoạt động kinh tế, thúc đẩy tăng trưởng, ổn định kinh tế vĩ mô, giữ vững các cân đối lớn, bảo đảm quốc phòng, an ninh, nâng cao năng lực tự chủ, tự cường và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội nhanh, bền vững theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

Quang cảnh điểm cầu Ban Chính sách, chiến lược Trung ương
Về những hạn chế, tồn tại
Nghị quyết 79 đã chỉ rõ những hạn chế, tồn tại của KTNN, cụ thể như sau:
Một là, Chính sách pháp luật về KTNN chậm đổi mới, chưa theo kịp thực tiễn phát triển.
Hai là, Quản lý, khai thác và sử dụng nhiều nguồn lực, tài sản của Nhà nước chưa thực sự hiệu quả, chưa hạch toán kinh tế đầy đủ, còn lãng phí, thất thoát, chưa thể hiện vai trò chủ đạo, chi phối.
Ba là, DNNN hoạt động chưa hiệu quả, chưa tương xứng với nguồn lực đang nắm giữ, năng lực cạnh tranh còn hạn chế, chưa đóng vai trò tiên phong trong đổi mới sáng tạo, dẫn dắt các ngành, lĩnh vực then chốt; cải cách DNNN còn chậm.
Bốn là, Hệ thống các đơn vị sự nghiệp công lập chưa tinh gọn; cơ chế hoạt động và tự chủ tài chính chậm đổi mới;tỷ lệ đơn vị sự nghiệp công lập tự chủ hoàn toàn còn thấp, chất lượng dịch vụ chua đáp ứng yêu cầu, nhiều tồn tại kéo dài chưa được xử lý kịp thời.
Về nguyên nhân của những hạn chế, tồn tại
Nghị quyết xác định có 5 nguyên nhân chủ yếu: (i) Tư duy và nhận thức chưa đầy đủ về vị trí, vai trò, phạm vi của kinh tế nhà nước; mối quan hệ giữa Nhà nước, thị trường và xã hội chưa được giải quyết hợp lý; (ii) Thể chế pháp luật chưa đồng bộ, còn bất cập, tổ chức thực hiện chưa nghiêm; (iii) Công tác phối hợp trong quản lý, khai thác và sử dụng nguồn lực, tài sản nhà nước thiếu hiệu quả; ý thức trách nhiệm trong quản lý, sử dụng tài sản nhà nước chưa cao; (iv) Trình độ, năng lực đội ngũ quản lý chưa đáp ứng yêu cầu; công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát, kiểm toán chưa đáp ứng yêu cầu quản lý.
Nội dung thư 3 về – Quan điểm, mục tiêu, tầm nhìn, nhiệm vụ và giải pháp phát triển KTNN
Quan điểm chỉ đạo về phát triển KTNN
Trước bối cảnh, tình hình trong nước và quốc tế, đồng thời nhằm phát huy hơn nữa vai trò của KTNN, góp phần hiện thực hóa 2 mục tiêu chiến lược 100 của đất nước đến năm 2030 và năm 2045, Nghị quyết đề ra 05 nhóm quan điểm chỉ đạo mang tính hệ thống, bao trùm và toàn diện về phát triển KTNN trong kỷ nguyên mới, trong đó có thể khái quát những điểm mới như sau:
Thứ nhất, đổi mới và cụ thể hóa nội hàm “vai trò chủ đạo” của KTNN trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN.
Nghị quyết số 79 kế thừa quan điểm của các nghị quyết, kết luận trước đây về việc KTNN giữ vai trò chủ đạo trong việc bảo đảm ổn định vĩ mô, các cân đối lớn của nền kinh tế; đồng thời, bổ sung, cụ thể hóa nội hàm vai trò chủ đạo trên các mặt: Định hướng chiến lược phát triển, giữ vững quốc phòng, an ninh; góp phần phát huy giá trị văn hoá và tiến bộ công bằng, an sinh xã hội; là nguồn lực quan trọng để Nhà nước chi phối, can thiệp kịp thời đáp ứng các yêu cầu đột xuất, cấp bách phát sinh.
Thứ hai, xác định rõ mối quan hệ cùng phát triển giữa kinh tế nhà nước và các khu vực kinh tế khác nhằm phát huy đầy đủ chức năng, vai trò của từng khu vực.
Bên cạnh việc tiếp tục khẳng định mối quan hệ phát triển bình đẳng trước pháp luật, hợp tác, cạnh tranh lành mạnh, cùng phát triển lâu dài, tiếp cận công bằng, công khai, minh bạch các nguồn lực, thị trường và cơ hội phát triển với các khu vực kinh tế khác, Nghị quyết số 79 đã làm rõ, bổ sung quan điểm: KTNN cùng với các thành phần kinh tế trong nước xây dựng nền kinh tế tự chủ, tự lực, tự cường, bảo đảm an ninh kinh tế, thúc đẩy hội nhập quốc tế sâu rộng, thực chất, hiệu quả. Đồng thời xác định mục tiêu đến năm 2045: Kinh tế nhà nước trở thành nền tảng vững chắc bảo đảm tự chủ chiến lược, tự cường và sức cạnh tranh toàn diện của nền kinh tế; quản trị hiện đại, minh bạch, hiệu quả, có năng lực cạnh tranh cao và hội nhập sâu vào kinh tế toàn cầu, cung ứng dịch vụ công chất lượng cao, khẳng định tính ưu việt của chủ nghĩa xã hội.
Thứ ba, quan điểm về nâng cao hiệu quả quản lý, khai thác và sử dụng các nguồn lực KTNN
Nghị quyết đề ra quan điểm mới về cơ chế phân bổ, quản lý, khai thác và sử dụng các nguồn lực của kinh tế nhà nước, trong đó nhấn mạnh 2 điểm mới mang tính đột phá:
(i) Để khắc phục tình trạng hoạt động của KTNN chưa phản ánh đầy đủ lợi ích và chi phí sử dụng tài sản nhà nước, tình trạng phân bổ nguồn lực chưa hiệu quả; đồng thời, để xác định đúng sức mạnh, tiềm lực, hiệu quả và đóng góp thực sự của kinh tế nhà nước, Nghị quyết đề ra quan điểm mới: Các nguồn lực kinh tế nhà nước phải được rà soát, thống kê, đánh giá, hạch toán đầy đủ theo nguyên tắc thị trường. Đánh giá tác động và phân tích lợi ích - chi phí xã hội của đầu tư nguồn lực vật chất của Nhà nước theo thông lệ quốc tế.
(ii) Khơi thông các điểm nghẽn, giải phóng nguồn lực, quản lý, khai thác, sử dụng hiệu quả, chống thất thoát, lãng phí các nguồn lực KTNN; giải quyết tốt mối quan hệ Nhà nước-thị trường-xã hội; tách bạch việc sử dụng nguồn lực nhà nước trong cung cấp hàng hóa, dịch vụ công thực hiện nhiệm vụ chính trị với các hoạt động sản xuất kinh doanh.
Thứ tư, nâng tầm nhiệm vụ của kinh tế nhà nước gắn với yêu cầu đổi mới mô hình tăng trưởng
Nguồn lực của kinh tế nhà nước vẫn còn rất lớn. KTNN không chỉ là công cụ để Nhà nước định hướng, điều tiết, dẫn dắt phát triển kinh tế, mà còn cần phải trở thành chủ thể trực tiếp góp phần hiện thực hóa 2 mục tiêu 100 năm phát triển đất nước và thực hiện chủ trương xác lập mô hình tăng trưởng mới. Nghị quyết số 79 đã đề ra quan điểm: Kinh tế nhà nước phải tiên phong kiến tạo phát triển, dẫn dắt, mở đường, thúc đẩy công nghiệp hoá, hiện đại hoá, cơ cấu lại nền kinh tế và xác lập mô hình tăng trưởng mới, lấy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chính, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Đẩy mạnh cơ cấu lại DNNN theo chuẩn mực quốc tế; phát triển các tập đoàn kinh tế, DNNN, NHTMNN lớn, giữ vai trò tiên phong, dẫn dắt, tạo động lực thúc đẩy các ngành, lĩnh vực then chốt, chiến lược, thiết yếu, có năng lực cạnh tranh toàn cầu.
Thứ năm, tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng; nâng cao năng lực, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với KTNN nhất là trong định hướng sử dụng nguồn lực và tổ chức thực hiện.
Về mục tiêu và tầm nhìn phát triển kinh tế Nhà nước
Nghị quyết đề ra các mục tiêu tổng quát và mục tiêu cụ thể về phát triển kinh tế nhà nước đến năm 2030, tầm nhìn 2045, trong đó:
Mục tiêu tổng quát với 4 nội dung chính gắn với vai trò, chức năng của kinh tế nhà nước, bao gồm: (i) Nâng cao hiệu quả, phát huy vai trò chủ đạo, tiên phong, định hướng chiến lược của KTNN trong lĩnh vực then chốt, chiến lược. (ii) Dẫn dắt, hỗ trợ các khu vực kinh tế cùng phát triển; (iii) Góp phần thúc đẩy phát triển nhanh, bền vững, bảo đảm quốc phòng, an ninh; thúc đẩy tiến bộ, công bằng xã hội, nâng cao đời sống Nhân dân; (iv) Góp phần thực hiện thắng lợi 02 mục tiêu 100 năm phát triển đất nước.
Nghị quyết cũng đã xác định các mục tiêu cụ thể đến năm 2030 cần đạt được đối với 06 thành tố của kinh tế nhà nước:
- Về đất đai, tài nguyên;
- Về tài sản kết cấu hạ tầng;
- Về ngân sách, dự trữ quốc gia, quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách;
- Về doanh nghiệp nhà nước;
- Về tổ chức tín dụng nhà nước;
- Về đơn vị sự nghiệp công lập.
Về nhiệm vụ và giải pháp
Bộ Chính trị yêu cầu tập trung triển khai mạnh mẽ, thực chất các nhiệm vụ, giải pháp sau đây:
Thứ nhất, nhóm nhiệm vụ và giải pháp chung
Nghị quyết đề ra 07 nhóm nhiệm vụ, giải pháp chung, xin khái quát các nội dung chủ yếu như sau: (i) Đổi mới mạnh mẽ tư duy lãnh đạo, quản lý kinh tế nhà nước với trọng tâm là chuyển mạnh từ quản lý hành chính sang kiến tạo phát triển, quản trị hiện đại; hành động quyết liệt, hiệu quả; (ii) Hoàn thiện hệ thống pháp luật theo tinh thần Nghị quyết số 66 của Bộ Chính trị; (iii) Tạo lập môi trường đầu tư, kinh doanh thuận lợi, công bằng, minh bạch trong tiếp cận, khai thác, sử dụng các nguồn lực quốc gia; đẩy mạnh hợp tác công – tư, cải cách hành chính, tăng cường phân cấp, phân quyền gắn với trách nhiệm giải trình; nâng cao tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm; hạch toán kinh tế-xã hội, giảm chi phí tuân thủ, chuyển mạnh từ tiền kiểm sang hậu kiểm; (iv) Chú trọng nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý; thực hiện hiệu quả chính sách thu hút, trọng dụng nhân tài; (v) xây dựng cơ chế bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm và quy trình đánh giá minh bạch; (vi) Xây dựng hệ thống dữ liệu thống nhất về kinh tế nhà nước, liên thông, an toàn; phát huy vai trò dữ liệu trong giám sát, đánh giá hiệu quả sử dụng vốn, tài sản công, nguồn lực nhà nước làm căn cứ hoạch định chính sách, phân bổ, điều tiết nguồn lực; (vii) Công tác kiểm tra, thanh tra, kiểm toán và xử lý.
Thứ hai, nhóm nhiệm vụ, giải pháp cụ thể
Nhóm nhiệm vụ, giải pháp thứ nhất: đối với đất đai và tài nguyên: Để khắc phục những hạn chế hiện nay, Nghị quyết đề ra 07 nhóm nhiệm vụ, giải pháp liên quan đến 07 lĩnh vực: đất đai; tài nguyên nước; tài nguyên khoáng sản; kinh tế biển; nguồn lợi vùng trời, kinh tế không gian vũ trụ và kinh tế không gian tầm thấp; không gian ngầm; tài nguyên số và tài nguyên viễn thông. Trong đó, cần quán triệt và thực hiện một số nhiệm vụ, giải pháp mới và trọng tâm sau đây:
(i) Ngay trong năm 2026: Hoàn thiện công tác đo đạc, thống kê, số hóa, làm sạch dữ liệu đất đai trên toàn quốc, kết nối, liên thông với các hệ thống dữ liệu quốc gia khác; xây dựng, ban hành Luật Đất đai sửa đổi và các văn bản hướng dẫn nhằm tháo gỡ các vướng mắc trong quản lý đất đai, khơi thông nguồn lực từ đất đai.
(ii) Hiện đại hóa quản trị để điều hòa, phân phối, sử dụng tài nguyên nước tiết kiệm, hiệu quả, công bằng, hợp lý, bảo đảm an ninh nguồn nước, an ninh lương thực, an ninh năng lượng; tạo cơ chế chia sẻ lợi ích trong quản lý, khai thác, sử dụng tài nguyên nước.
(iii) Điều tra, thăm dò, thống kê đầy đủ các nguồn tài nguyên, khoáng sản để thống nhất quản lý, sử dụng hiệu quả. Có chính sách phù hợp để thúc đẩy việc tiếp cận, làm chủ công nghệ khai thác, chế biến sâu các loại khoáng sản, nhất là những loại khoáng sản chiến lược.
(iv) Có cơ chế quản lý tập trung, liên ngành bảo đảm khai thác hiệu quả, bền vững tài nguyên biển, đảo phục vụ phát triển KT-XH, bảo đảm QP-AN, bảo vệ chủ quyền đất nước; kinh tế biển phải trở thành một cấu phần quan trọng trong KTNN.
(v) Hoàn thiện cơ chế quản lý, khai thác, bảo vệ vùng trời; ban hành cơ chế vượt trội và triển khai các khuôn khổ thử nghiệm có kiểm soát để thúc đẩy phát triển kinh tế không gian vũ trụ, kinh tế không gian tầm thấp, công nghiệp hàng không, vũ trụ.
vi) Đẩy mạnh quy hoạch không gian ngầm tích hợp với quy hoạch đô thị, hạ tầng; khuyến khích huy động nguồn lực xã hội, hợp tác công tư trong đầu tư, khai thác công trình ngầm.
(vii) Hoàn thiện pháp luật về tài nguyên số, tài nguyên viễn thông để quản lý, phát triển thị trường dữ liệu, sàn giao dịch dữ liệu và kinh tế dữ liệu. Đưa tài nguyên số và dữ liệu quốc gia thực sự trở thành nguồn lực chiến lược.
Hai là, đối với tài sản kết cấu hạ tầng: Nghị quyết yêu cầu thực hiện 02 nhóm nhiệm vụ chính: (i) Xây dựng chiến lược, quy hoạch, phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng với tầm nhìn dài hạn, đón đầu xu thế phát triển các ngành kinh tế, thúc đẩy phát triển nhanh, bền vững, chuyển đổi xanh, chuyển đổi số, thích ứng với biến đổi khí hậu; đảm bảo tính đồng bộ, liên kết, đa ngành, đa mục tiêu nhằm khai thác hiệu quả, tận dụng tối đa các loại hình kết cấu hạ tầng. (ii) Bổ sung khung pháp lý để huy động nguồn lực ngoài ngân sách cùng tham gia quản lý, khai thác, sử dụng các loại tài sản kết cấu hạ tầng, bảo đảm tính hiệu quả, công khai, minh bạch, chống thất thoát, lãng phí.
Ba là, đối với ngân sách nhà nước, dự trữ quốc gia và quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách, vốn nhà nước tại doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ từ 50% vốn điều lệ trở xuống
(i) Đối với ngân sách nhà nước, Nghị quyết yêu cầu trọng tâm điều hành là gắn với cơ cấu lại nền kinh tế và xác lập mô hình tăng trưởng mới; nâng cao hiệu quả huy động, phân bổ và sử dụng các nguồn lực ngân sách. Tăng cường phân cấp nguồn thu, phân cấp nhiệm vụ chi gắn với trách nhiệm theo từng cấp; bảo đảm nguyên tắc cấp nào thực hiện hiệu quả, kịp thời nhất thì giao cho ngân sách cấp đó thực hiện; phân bổ đầu tư công tập trung, tránh dàn trải; ưu tiên đầu tư công cho các nhiệm vụ, công trình hạ tầng chiến lược, có tính đột phá; địa phương chủ động quyết định đầu tư theo quy hoạch và khả năng cân đối, chịu trách nhiệm về quyết định của mình; đa dạng hóa các kênh huy động vốn, bảo đảm vay và trả nợ an toàn, hiệu quả.
(ii) Đối với dự trữ quốc gia, Nghị quyết xác định dự trữ quốc gia thực sự trở thành nguồn lực dự trữ chiến lược gắn với quốc phòng, an ninh, an ninh kinh tế, an sinh xã hội và điều tiết, can thiệp thị trường. Đầu tư hệ thống hạ tầng dự trữ hiện đại; khuyến khích doanh nghiệp tham gia một số hoạt động dự trữ quốc gia theo nguyên tắc thị trường;
(iii) Đối với các quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách, Nghị quyết nhấn mạnh yêu cầu tiếp tục sắp xếp, tinh gọn hệ thống quỹ, giảm đầu mối, tăng quy mô; không thành lập quỹ mới khi không cần thiết; sáp nhập, giải thể quỹ hoạt động kém hiệu quả. Đẩy mạnh cơ chế ủy thác cho tổ chức tài chính chuyên nghiệp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn.
(iv) Đối với vốn nhà nước tại doanh nghiệp do nhà nước không nắm giữ chi phối: chuyển giao vốn nhà nước cho doanh nghiệp có chức năng đầu tư, kinh doanh vốn nhà nước, DNNN cùng ngành nghề để quản lý, đầu tư, phát triển.
Bốn là, đối với DNNN: Nghị quyết đã đề ra 17 nhóm nhiệm vụ, giải pháp cụ thể thuộc 04 nội dung chính: (i) Bảo đảm DNNN thực sự là một lực lượng vật chất quan trọng của kinh tế nhà nước. (ii) Thúc đẩy đầu tư, phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh để kinh doanh hiệu quả, bền vững; (iii) Đổi mới, nâng cao hiệu quả quản trị doanh nghiệp; (iv) Cơ cấu lại vốn nhà nước và sắp xếp DNNN.
Nghị quyết 79 đã xác định những chính sách mới cần quan tâm quán triệt và thực hiện sau đây:
(i) Nghị quyết đã định hướng rõ đầu tư, phát triển một số tập đoàn kinh tế, DNNN mạnh, có quy mô lớn đóng vai trò dẫn dắt trong các ngành, lĩnh vực then chốt, chiến lược của nền kinh tế như: Quốc phòng, an ninh; năng lượng; vận tải, logistics; tài chính - ngân hàng; khoa học - công nghệ, điện tử - viễn thông, hạ tầng số; khoáng sản chiến lược, hóa chất, xây dựng.v.v.
Ban hành chính sách tạo động lực cho DNNN tăng quy mô vốn điều lệ. Bảo đảm đủ vốn, hỗ trợ lãi suất và cấp đủ tín dụng đối với dự án, công trình trọng điểm quốc gia.
(ii) Đổi mới chính sách khoa học, công nghệ đối với DNNN gắn với thực hiện Nghị quyết số 57: Khuyến khích DNNN đẩy mạnh, tiên phong trong hoạt động nghiên cứu, ứng dụng KHCN; đầu tư, liên kết làm chủ công nghệ lõi, công nghệ chiến lược, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, phát triển kinh tế tuần hoàn, giảm phát thải khí nhà kính. Có cơ chế cho phép hình thành Quỹ đầu tư mạo hiểm.
(iii) Về quản trị DNNN: Nâng cao tiêu chuẩn, điều kiện, phân công, phân cấp các chức danh quản lý tại DNNN, bảo đảm trách nhiệm đi đôi với quyền hạn. Đánh giá hiệu quả DNNN trên cơ sở tổng thể mục tiêu, nhiệm vụ được giao, hạch toán, phản ánh đầy đủ lợi thế, các nguồn lực Nhà nước phù hợp thông lệ quốc tế. Hạch toán tách bạch nhiệm vụ SX-KD với nhiệm vụ chính trị, nhiệm vụ không vì mục tiêu lợi nhuận.
(iv) Về cơ cấu lại vốn nhà nước và sắp xếp DNNN: Cơ cấu lại DNNN đảm bảo hiệu quả, giảm đầu mối, tăng quy mô để thực hiện tốt hơn vai trò của DNNN; định hướng mới của Nghị quyết 79 về tổ chức cổ phần hoá DNNN là không làm ảnh hưởng đến kiểm soát của Nhà nước trong những lĩnh vực then chốt, chiến lược, không làm mất đi các thương hiệu quốc gia có uy tín. Về thoái vốn nhà nước, cần quán triệt điểm mới của Nghị quyết là: Đối với doanh nghiệp mà Nhà nước không cần nắm giữ cổ phần, vốn góp chi phối thì có cơ chế, lộ trình phù hợp nhằm sáp nhập với các DNNN hoặc chuyển giao cho doanh nghiệp đầu tư và kinh doanh vốn nhà nước ở trung ương hoặc địa phương đảm bảo công khai, minh bạch, hiệu quả theo nguyên tắc nhà nước làm những gì tư nhân không làm hoặc không có khả năng làm; những gì tư nhân làm được thì nhà nước phải làm tốt hơn; các thương hiệu quốc gia có uy tín thì tiếp tục đầu tư để hoạt động hiệu quả hơn. Tái cơ cấu toàn diện Tổng Công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn nhà nước theo hướng kinh doanh vốn chuyên nghiệp hướng tới hình thành Quỹ đầu tư quốc gia.
Năm là, đối với các tổ chức tín dụng Nhà nước:
(i) Tiếp tục triển khai các giải pháp về áp dụng chuẩn mực quản trị hiện đại, nâng cao năng lực quản lý rủi ro. Chuyển đổi số toàn diện cho các tổ chức tín dụng nhà nước.
(ii) Tổ chức, sắp xếp lại mạng lưới ngân hàng thương mại nhà nước, bảo đảm minh bạch thông tin và trách nhiệm giải trình đối với các tổ chức tín dụng nhà nước và tăng vốn điều lệ cần được xác định là giải pháp quan trọng nhằm nâng cao năng lực tài chính, tỷ lệ an toàn vốn và hiệu quả hoạt động.
(iii) Hoàn thiện cơ chế, chính sách phát triển đối với Ngân hàng Chính sách xã hội và cơ cấu lại toàn diện Ngân hàng Phát triển Việt Nam theo hướng tăng vốn, tinh gọn, hiệu quả, đa dạng hóa nguồn lực.
Sáu là, đối với các đơn vị sự nghiệp công lập: Nghị quyết nhấn mạnh một số nhiệm vụ, giải pháp mới sau đây:
(i) Sắp xếp, tổ chức lại đơn vị SNCL đảm bảo tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả phù hợp với mô hình chính quyền địa phương 2 cấp; chuyển mạnh từ cơ chế tài chính cấp phát trực tiếp sang hỗ trợ trực tiếp cho người thụ hưởng.
(ii) Chuyển các dịch vụ sự nghiệp công có khả năng xã hội hóa cao sang thực hiện cơ chế thị trường. Mở rộng hợp tác công tư, khuyến khích khu vực ngoài nhà nước tham gia cung ứng dịch vụ công.
(iii) Chuyển đổi đơn vị sự nghiệp công lập thành công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên trong những ngành, lĩnh vực phù hợp. Ứng dụng công nghệ số để người dân trực tiếp đánh giá chất lượng, hiệu quả, mức độ hài lòng đối với các dịch vụ sự nghiệp công.
Bên cạnh thực hiện quyết liệt, hiệu quả các nhiệm vụ, giải pháp nêu trong Nghị quyết 79, Bộ Chính trị yêu cầu tiếp tục tổ chức thực hiện quyết liệt, đồng bộ, hiệu quả các chủ trương, định hướng, nhiệm vụ, giải pháp đã xác định tại các nghị quyết, kết luận của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư về nguồn lực đất đai, tài nguyên khoáng sản, tài sản kết cấu hạ tầng, ngân sách nhà nước, dự trữ quốc gia, doanh nghiệp nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập...
Tiếp đó tại Hội nghị, đồng chí Trịnh Văn Quyết, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương trình bày chuyên đề “Nội dung trọng tâm, cốt lõi của Nghị quyết số 80 - NQ/TW, ngày 07/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam. Đồng chí Nguyễn Hòa Bình, Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ trình bày Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết 79 và Nghị quyết số 80.
Tại Hội nghị, Tổng Bí thư Tô Lâm đã có bài phát biểu chỉ đạo quan trọng.
Văn phòng Ban




In bài viết