Chuyến công tác tập trung nghiên cứu kinh nghiệm về quản lý tài chính công, kỷ luật tài khóa và bảo đảm tính bền vững của hệ thống hưu trí; mô hình phúc lợi và quản trị phát triển xã hội; phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và công nghệ chiến lược; quản trị, tài trợ và đánh giá hoạt động nghiên cứu; quản lý tài nguyên nước, thích ứng với biến đổi khí hậu và quy hoạch không gian biển. Đoàn gồm 05 thành viên là đại diện các đơn vị của Ban Chính sách, chiến lược Trung ương và Cục Thống kê, Bộ Tài chính.
Trong khuôn khổ chương trình, Đoàn công tác đã làm việc với Tập đoàn Ericsson, Bộ Y tế và Các vấn đề xã hội Thụy Điển; Bộ Tài chính Đan Mạch, Đại học Kỹ thuật Đan Mạch; Bộ Cơ sở hạ tầng và Quản lý nước Hà Lan và các cơ quan quản lý nước vùng, Viện Deltares, Đại học Leiden và PGS.TS. Jonathan D. London; đồng thời trao đổi với các Đại sứ quán Việt Nam tại địa bàn.
Tại Thụy Điển, Đoàn làm việc với Tập đoàn Ericsson về xu hướng phát triển hạ tầng viễn thông thế hệ mới, lộ trình từ 5G lên 6G, ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong vận hành mạng, sử dụng hiệu quả phổ tần và năng lượng, cũng như đào tạo nhân lực và chuyển giao tri thức. Theo đại diện Ericsson, mạng 5G độc lập là nền tảng quan trọng để chuẩn bị cho 6G; quá trình chuyển đổi cần được triển khai đồng bộ với hiện đại hóa mạng truy nhập vô tuyến, phát triển mạng lõi, số hóa các ngành kinh tế và xây dựng năng lực sử dụng trí tuệ nhân tạo.
Ericsson cũng giới thiệu lộ trình phát triển 6G của ngành viễn thông, từ thử nghiệm công nghệ và xây dựng tiêu chuẩn, chuẩn bị phổ tần, triển khai hệ thống tiền thương mại đến thương mại hóa từ khoảng năm 2030. Các công nghệ được trao đổi gồm mạng truy nhập vô tuyến thế hệ mới, chip silicon chuyên dụng, bộ tăng tốc mạng nơ-ron, trí tuệ nhân tạo tích hợp trong mạng và các giải pháp nâng cao hiệu suất năng lượng. Nội dung này cho thấy việc chuẩn bị cho 6G cần bắt đầu từ chất lượng triển khai 5G, năng lực kỹ thuật, hệ sinh thái ứng dụng và quyết định sớm về định hướng sử dụng phổ tần.
.png)
Đồng chí Nguyễn Thế Mạnh và Đoàn công tác làm việc tại Công ty Ericsson
Đoàn cho biết Việt Nam coi khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là động lực quan trọng của mô hình tăng trưởng mới; đề nghị Ericsson tiếp tục phối hợp với các bộ, ngành, doanh nghiệp viễn thông, trường đại học và viện nghiên cứu của Việt Nam trong đào tạo nhân lực, tư vấn kỹ thuật, nghiên cứu thử nghiệm và tiếp cận công nghệ mới. Đại diện Ericsson bày tỏ sẵn sàng tiếp tục hỗ trợ Việt Nam trong các lĩnh vực 5G, 6G, trí tuệ nhân tạo, công nghệ lượng tử, tối ưu hóa năng lượng và quản trị mạng.
Làm việc với Bộ Y tế và Các vấn đề xã hội Thụy Điển, Đoàn tìm hiểu mô hình phúc lợi, cơ chế phân cấp cung cấp dịch vụ công, hệ thống bảo hiểm xã hội và hưu trí, chính sách chăm sóc người cao tuổi trong bối cảnh già hóa dân số. Hệ thống phúc lợi của Thụy Điển kết hợp các dịch vụ phổ cập, chế độ dựa trên thu nhập và quá trình đóng góp, cùng hỗ trợ theo nhu cầu đối với nhóm yếu thế. Trung ương ban hành luật, chính sách và chuẩn mực; cấp vùng chủ yếu phụ trách y tế; chính quyền địa phương cung cấp dịch vụ xã hội, giáo dục và chăm sóc người cao tuổi.
.png)
Đồng chí Nguyễn Thế Mạnh và Đoàn công tác làm việc tại Bộ Y tế và Các vấn đề xã hội Thụy Điển
Một kinh nghiệm được hai bên trao đổi sâu là cơ chế dịch vụ do Nhà nước bảo đảm tài chính nhưng có thể được cung cấp bởi đơn vị công hoặc tư nhân. Người dân có quyền lựa chọn nhà cung cấp trong một số lĩnh vực, còn chính quyền địa phương đánh giá nhu cầu, tổ chức cung ứng và giám sát chất lượng. Hệ thống hưu trí kết hợp phần hưởng theo thu nhập, phần tích lũy, lương hưu bảo đảm và lương hưu nghề nghiệp; làm việc lâu hơn giúp tăng mức hưởng. Đối với chăm sóc người cao tuổi, Thụy Điển chú trọng nâng kỹ năng, yêu cầu ngôn ngữ đối với nhân lực chăm sóc, hỗ trợ người chăm sóc trong gia đình và triển khai chiến lược quốc gia về sa sút trí tuệ.
Tại Đan Mạch, làm việc với Bộ Tài chính, Đoàn tập trung trao đổi về khuôn khổ tài khóa dài hạn, kế hoạch tài chính trung hạn, trần chi tiêu nhiều năm và các cải cách hưu trí nhằm ứng phó với già hóa dân số. Kinh nghiệm của Đan Mạch cho thấy quản lý ngân sách được tổ chức theo chuỗi liên kết từ dự báo dài hạn, kế hoạch trung hạn đến ngân sách hằng năm. Các dự báo xem xét dân số, tuổi thọ, thị trường lao động, tăng trưởng, thu và chi công; kế hoạch trung hạn xác định không gian tài khóa; trần chi bốn năm chuyển các giới hạn tổng thể thành mức chi có tính ràng buộc đối với trung ương, vùng và địa phương.

Đồng chí Nguyễn Thế Mạnh và Đoàn công tác làm việc tại Bộ Tài chính Đan Mạch
Theo đại diện Bộ Tài chính Đan Mạch, các nhiệm vụ chưa được tính trong kế hoạch trung hạn và trần chi không mặc nhiên được triển khai. Khi có thay đổi, Chính phủ phải sắp xếp lại thứ tự ưu tiên, tái phân bổ nguồn lực hoặc thực hiện quy trình điều chỉnh theo thẩm quyền. Khuôn khổ này vẫn dành khả năng xử lý các tình huống bất khả kháng, nhưng yêu cầu các quyết định chi tiêu mới phải được đánh giá đầy đủ về nguồn lực và tác động trung hạn. Đan Mạch đồng thời thực hiện các cải cách về hưu trí, tuổi nghỉ hưu và thuế. Hệ thống kết hợp lương hưu phổ cập với tiết kiệm hưu trí trong quá trình làm việc; tuổi nghỉ hưu được điều chỉnh theo tuổi thọ và công bố với lộ trình đủ dài để người dân, doanh nghiệp có thời gian chuẩn bị.
Tại Đại học Kỹ thuật Đan Mạch, Đoàn tìm hiểu chiến lược phát triển đại học kỹ thuật, cơ chế lựa chọn công nghệ ưu tiên, liên kết nghiên cứu với đào tạo và nhu cầu của doanh nghiệp, thương mại hóa kết quả nghiên cứu và xây dựng hệ sinh thái khởi nghiệp. Chiến lược giai đoạn 2026-2031 của nhà trường tập trung vào chuyển đổi công nghệ bền vững, vai trò dẫn dắt trong các công nghệ trọng yếu, đào tạo kỹ sư, đưa tri thức thành hoạt động kinh doanh, đồng thời nâng cao trách nhiệm xã hội của khoa học và năng lực phản biện của người học.

Đoàn công tác làm việc tại Đại học Kỹ thuật Đan Mạch
Đại học Kỹ thuật Đan Mạch đã hình thành mạng lưới hỗ trợ tương đối đồng bộ gồm các nhóm nghiên cứu hợp tác với doanh nghiệp, văn phòng nghiên cứu và đổi mới, DTU Science Park, DTU Skylab, SkyFactory cùng các công cụ ươm tạo và đầu tư cho dự án công nghệ. Hai bên trao đổi về khả năng tăng cường kết nối giữa trường với các cơ sở đào tạo, viện nghiên cứu và doanh nghiệp Việt Nam, nhất là trong nghiên cứu công nghệ xanh, phát triển nhân lực kỹ thuật và hỗ trợ đưa kết quả nghiên cứu ra thị trường.
Tại Hà Lan, Đoàn tham dự tọa đàm chính sách với Bộ Cơ sở hạ tầng và Quản lý nước, các cơ quan quản lý nước vùng, Viện Deltares và các chuyên gia về quản trị tài nguyên nước, thích ứng với biến đổi khí hậu, quy hoạch không gian biển và khai thác cát ngoài khơi. Hai bên đánh giá hợp tác về nước là một trụ cột quan trọng trong quan hệ Việt Nam - Hà Lan trong hơn 50 năm qua; khuôn khổ Đối tác chiến lược về thích ứng với biến đổi khí hậu và quản lý nước được thiết lập năm 2010 đã tạo nền tảng cho nhiều chương trình hợp tác, trong đó có Mekong Delta Plan.
.png)
Đoàn công tác làm việc với Bộ Cơ sở hạ tầng và Quản lý nước Hà Lan
Phía Hà Lan chia sẻ cách tiếp cận quản trị dựa trên rủi ro, kết hợp xác suất xảy ra với hậu quả đối với tính mạng, tài sản, sinh kế và hạ tầng thiết yếu. Kết quả mô hình hóa, bản đồ ngập và phân tích chi phí - lợi ích là cơ sở kỹ thuật để đề xuất tiêu chuẩn an toàn, trong khi quyết định cuối cùng thuộc cơ quan hoạch định chính sách. Hệ thống đê, cống và công trình bảo vệ được kết hợp với quy hoạch không gian, khu vực trữ nước và các giải pháp dựa vào tự nhiên. Chương trình “Room for the River” là một ví dụ về việc tạo thêm không gian thoát lũ cho sông thay vì chỉ tiếp tục nâng cao đê.
Các cơ quan quản lý nước vùng của Hà Lan có nhiệm vụ rõ, quyền thu thuế riêng, nguồn lực tương đối ổn định và trách nhiệm báo cáo với chính quyền trung ương, địa phương và cộng đồng. Quản trị nước được tổ chức theo hệ thống thủy văn và lưu vực, với sự phối hợp giữa trung ương, tỉnh, đô thị, cơ quan quản lý nước, doanh nghiệp cấp nước và tổ chức nghiên cứu. Đây là kinh nghiệm có giá trị đối với việc tổ chức phối hợp liên ngành, liên cấp và bảo đảm nguồn lực thường xuyên cho vận hành, duy tu các công trình nước.
Đối với Đồng bằng sông Cửu Long, các chuyên gia nhấn mạnh mối liên hệ giữa thiếu hụt phù sa, khai thác cát, sụt lún, suy giảm nước ngầm, xói lở và xâm nhập mặn; các vấn đề này cần được xem xét theo toàn bộ hệ thống châu thổ thay vì từng địa phương hoặc từng dự án riêng lẻ. Chương trình Blue Dragon giữa các cơ quan quản lý nước Hà Lan với Đại học Cần Thơ, thành phố Cần Thơ và tỉnh An Giang kết hợp trao đổi chuyên gia, đào tạo cán bộ, công cụ đánh giá rủi ro, ứng dụng hệ thống thông tin địa lý và thử nghiệm giải pháp tại địa bàn. Viện Deltares cũng bày tỏ sẵn sàng tiếp tục chia sẻ mô hình, dữ liệu và kinh nghiệm triển khai các giải pháp dựa vào tự nhiên tại Việt Nam.
Trong trao đổi về quy hoạch không gian biển, phía Hà Lan cho biết quy hoạch phải xử lý đồng thời nhu cầu phát triển điện gió ngoài khơi, vận tải biển, cáp ngầm, khai thác cát, bảo vệ hệ sinh thái, an ninh và an toàn bờ biển. Việc khai thác cát chỉ được xem xét sau khi đánh giá vị trí, thời gian, ảnh hưởng đối với đáy biển, hệ sinh thái và các hoạt động khác. Cách tiếp cận này có ý nghĩa tham khảo đối với Việt Nam trong phát triển kinh tế biển xanh và quản lý tổng hợp không gian biển, vùng bờ.
Làm việc với Đại học Leiden, Đoàn trao đổi về quản trị, tài trợ khoa học và cách xác định ưu tiên nghiên cứu. Hệ thống Hà Lan kết hợp nguồn kinh phí trực tiếp từ Chính phủ cho trường đại học, viện nghiên cứu; kinh phí cạnh tranh theo chương trình, dự án thông qua Hội đồng Nghiên cứu Hà Lan và các cơ quan điều phối; cùng nguồn từ Liên minh châu Âu, chính quyền địa phương và doanh nghiệp. Các trường có quyền tự chủ tương đối cao, nhưng khả năng triển khai ưu tiên vẫn phụ thuộc vào phần kinh phí trường có thể chủ động sử dụng.

Đoàn công tác làm việc tại Đại học Leiden, Hà Lan
Đoàn cũng tìm hiểu Quy trình Đánh giá Chiến lược (SEP) của Hà Lan. Quy trình kết hợp báo cáo tự đánh giá của đơn vị với đánh giá bên ngoài của hội đồng chuyên gia đồng cấp, tập trung vào chính sách nghiên cứu, mức độ liên quan và đóng góp đối với xã hội, cùng khả năng phát triển trong tương lai. Phân tích thư mục chỉ được sử dụng khi phù hợp với đặc thù ngành; năng suất công bố, hệ số ảnh hưởng của tạp chí và chỉ số H không còn là tiêu chí đánh giá. Báo cáo tự đánh giá còn xem xét khoa học mở, đào tạo nghiên cứu sinh, thực hành nghiên cứu có trách nhiệm và văn hóa học thuật. Kết quả SEP không gắn trực tiếp với phân bổ kinh phí, qua đó hạn chế sức ép chạy theo chỉ số ngắn hạn.
Tại các buổi làm việc, Đoàn đã chia sẻ với các đối tác về những thành tựu phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam, các chủ trương, định hướng mới về đổi mới mô hình tăng trưởng, phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, hoàn thiện chính sách xã hội, thúc đẩy tăng trưởng xanh và phát triển bền vững. Đoàn công tác khẳng định tầm quan trọng của việc mở rộng trao đổi thông tin, kinh nghiệm và hợp tác nghiên cứu với các cơ quan, trường đại học, viện nghiên cứu và doanh nghiệp của ba nước, qua đó phục vụ tốt hơn công tác tham mưu chiến lược cho Đảng.
Các đối tác đánh giá cao nội dung trao đổi thực chất của Đoàn, chia sẻ nhiều kinh nghiệm từ quá trình xây dựng và thực thi chính sách, đồng thời bày tỏ sẵn sàng duy trì kết nối và thúc đẩy hợp tác trong những lĩnh vực hai bên cùng quan tâm. Các cơ quan đại diện Việt Nam tại địa bàn đã tích cực phối hợp, hỗ trợ tổ chức chương trình và kết nối Đoàn với các đối tác sở tại.
Trong khuôn khổ chuyến công tác, Đoàn cũng trao đổi với Đại sứ quán Việt Nam tại các địa bàn về tình hình quan hệ hợp tác, khả năng kết nối các cơ quan quản lý, trường đại học, viện nghiên cứu, chuyên gia và doanh nghiệp sở tại với các đối tác Việt Nam.

Đồng chí Nguyễn Thế Mạnh và Đoàn công tác làm việc tại Đại sứ quán Việt Nam tại Thụy Điển
.png)
Đồng chí Nguyễn Thế Mạnh và Đoàn công tác làm việc tại Đại sứ quán Việt Nam tại Đan Mạch
Chuyến công tác tại Thụy Điển, Đan Mạch và Hà Lan đã cung cấp thêm nhiều thông tin, kinh nghiệm thực tiễn có giá trị về cách tổ chức quản trị phát triển, gắn mục tiêu dài hạn với nguồn lực trung hạn, huy động tri thức khoa học cho quyết định công và thiết lập cơ chế phối hợp giữa Nhà nước, viện nghiên cứu, trường đại học, doanh nghiệp và xã hội. Kết quả chuyến công tác là nguồn tham khảo thiết thực cho công tác nghiên cứu, tham mưu của Ban Chính sách, chiến lược Trung ương; đồng thời mở ra những cơ hội hợp tác mới giữa Ban với các cơ quan, tổ chức và đối tác của ba nước trong thời gian tới./.
Tin, bài: Đoàn công tác và Văn phòng Ban




In bài viết